TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 97/2024/HNGĐ-ST NGÀY 02/12/2024 VỀ TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại nhà văn hóa xã NK, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024, về việc: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Chị Phùng Thị N, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn N G, xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
* Bị đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn LG, xã NK, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. (Chị N và anh L có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phùng Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh L sau thời gian tự nguyện tìm hiểu đã đi đến kết hôn ngày 28/02/2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NK, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống ở thôn LG, xã NK, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, quan điểm sống và làm ăn kinh tế không đồng thuận dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã, mắng chửi nhau cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc. Gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưn mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể khắc phục. Năm 2019 chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa, nay xác định tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L chấm dứt tình trạng hôn nhân như hiện nay.
Về con chung: Chị và anh L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong biên bản tự khai anh Hoàng Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị N sau thời gian tự nguyện tìm hiểu đã đi đến kết hôn ngày 28/02/2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NK, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Vợ chồng anh chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, quan điểm sống và làm ăn kinh tế không đồng thuận dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã, mắng chửi nhau cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc. Vợ chồng anh đã sống ly thân nhiều năm nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị N xin ly hôn anh nhất trí.
Về con chung: Anh và chị N không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung cũng không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh L có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt, chị N có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện chị N và anh L có mâu thuẫn và đã ly thân nhiều năm nay.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, chị N, anh L giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho chị Phùng Thị N được ly hôn với anh Hoàng Văn L. Về con chung, tài sản chung, vay nợ chung các đương sự xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí, chị N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả làm việc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phùng Thị N và anh Hoàng Văn L sau thời gian tự nguyện tìm hiểu ngày 28/02/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NK, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh L là hợp pháp. Chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh Hoàng Văn L hiện đang cư trú, sinh sống tại thôn LG, xã NK, huyện Na Hang. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Na Hang.
[3]. Chị Phùng Thị N và anh Hoàng Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[4]. Về yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị N, Hội đồng xét xử nhận định:
[4.1]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, kết quả xác minh thấy rằng: Sau khi kết hôn chị N, anh L phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, thực tế vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh L là thực tế và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N có đơn xin ly hôn anh L nhất trí do đó cần xử cho chị N được ly hôn với anh L.
[4.2]. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị Phùng Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy điṇ h cua phap luât. Anh Hoàng Văn L không phải nộp án phí.
[6]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 228; 235; 238; 266; 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị N được ly hôn với anh Hoàng Văn L. (Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 28/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã NK, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang).
2. Về án phí: Chị Phùng Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghin đồng) án phí dân sư sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đa nôp la 300.000 đồng (ba trăm nghin đồng) theo biên lai số 0000876 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Hoàng Văn L không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Phùng Thị N và anh Hoàng Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kê tư ngay nhân đươc ban an hoăc bản án được niêm yết./.
Bản án về tranh chấp về hôn nhân và gia đình số 97/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 97/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nà Hang - Tuyên Quang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 02/12/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về