TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
BẢN ÁN 73/2024/HNGĐ-ST NGÀY 22/10/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 199/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 06 năm 2024 về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐST - HNGĐ ngày 30 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 2004 Nơi cư trú: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).
Bị đơn: Anh Cao Trọng T, sinh năm 1999 Nơi cư trú: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện để ngày 01 tháng 04 năm 2024, được bổ sung tại bản tự khai ngày 15 tháng 7 năm 2024, nguyên đơn chị Đoàn Thị H trình bày: chị và anh Cao Trọng T kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu, hoàn toàn tự nguyện, có đăng kí kết hôn tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 31/8/2022. Sau ngày kết hôn hai vợ chồng sống với nhau bình thường, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, cao điểm nhất là vào năm 2022 nguyên nhân là do không hợp tính cách, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích va chạm mặc dù vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại với nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 10/2022. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị quyết định làm thủ tục đề nghị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu giải quyết cho chị được ly hôn anh Cao Trọng T.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Cao Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/08/2021, hiện nay cháu Á đang ở với chị H. Ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Cao Thị Ngọc Á cho đến khi trưởng thành. Tại đơn khởi kiện, Chị H yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung một tháng 3.000.000 (ba triệu) đồng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị rút yêu cầu này, không yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Chị Đoàn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Diễn Châu đã tiến hành thông báo qua điện thoại, tống đạt cho anh Cao Trọng T các văn bản tố tụng nhưng anh T vắng mặt tại các phiên hòa giải. Qua xác minh tại Công an xã D thì anh Cao Trọng T vẫn đăng kí hộ khẩu, hiện nay không có mặt tại địa phương, anh T đi đâu làm gì không rõ, không có địa chỉ cụ thể. Hiện tại anh T chưa làm thủ tục chuyển khẩu hay cắt khẩu đi đâu cả. Do đó, tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh Cao Trọng T theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Tòa án mở phiên tòa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn anh Cao Trọng T đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định tại điều 227, điều 228, điểm b khoản 1 điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án áp dụng các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho chị Đoàn Thị H được ly hôn anh Cao Trọng T; về con chung: giao con chung Cao Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/08/2021 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành; việc cấp dưỡng nguyên đơn không yêu cầu nên miễn xét; về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; án phí: chị Đoàn Thị H phải chịu án phí theo quy định; các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Cao Trọng T có đăng ký hộ khẩu tại xã D, huyện D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt cho thân nhân anh Cao Trọng T, tiến hành niêm yết, xác minh tại nơi đăng kí hộ khẩu thường trú đối với anh Cao Trọng T và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Chị Đoàn Thị H đã thông báo đến anh T toàn bộ nội dung khởi kiện, anh T biết rõ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ vào các điều 70, điều 207, điều 227, điều 228, điều 238 BLTTDS 2015; điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao để giải quyết và xét xử vắng mặt anh Cao Trọng T.
Quá trình thụ lý, xét xử vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Thị H rút nội dung về việc yêu cầu bị đơn anh Cao Trọng T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tại đơn khởi kiện, không đề nghị Tòa án giải quyết. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên căn cứ khoản 1 điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về nội dung:
2.1. Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đoàn Thị H và anh Cao Trọng T là hoàn toàn hợp pháp, việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian ngắn chung sống hạnh phúc giữa chị H và anh T đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính cách, thiếu sự hòa hợp nên dẫn đến tình cảm phai nhạt. Quá trình làm việc tại Tòa án, chị H cũng xác định không còn tình cảm gì với anh T nữa, hiện nay đã sống ly thân nhau, không có khả năng đoàn tụ với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Riêng anh T, sau khi được thông báo toàn bộ nội dung khởi kiện của chị H về việc ly hôn nhưng không có bất cứ văn bản nào phản hồi về cho tòa án nêu rõ ý kiến. Điều đó chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa chị H và anh T đã thực sự rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt được, bởi vậy cần áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết cho chị Đoàn Thị H được ly hôn với anh Cao Trọng T.
2.2. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Cao Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/08/2021, hiện nay cháu Á đang ở với chị H, xét chị H có địa chỉ cư trú rõ ràng, cháu Á được chị trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc từ nhỏ. Vì vậy, chị H đủ các điều kiện cơ sở vật chất để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Căn cứ điều kiện nuôi con thực tế cũng như xét nguyện vọng của các đương sự, ý kiến của con chung Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng các điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung Cao Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/08/2021 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành là phù hợp.
Do chị Đoàn Thị H đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về nội dung cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Cao Trọng T.
2.3. Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
2.4. Án phí: Chị Đoàn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. 2.5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: chị Đoàn Thị H được ly hôn anh Cao Trọng T.
2. Về con chung: Giao con chung Cao Thị Ngọc Á, sinh ngày 20/08/2021 cho chị Đoàn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối anh Cao Trọng T.
Anh Cao Trọng T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Chị Đoàn Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0011492 ngày 24/06/2024.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị H có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Cao Trọng T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 73/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 73/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 22/10/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về