Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 11/2025/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 11/2025/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2025 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số: 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/11/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/12/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đăng K, sinh năm 1991. Hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh K: Bà Phạm Thị MK, sinh năm 1972; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Đỗ Thị L, sinh năm 1991. Hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản; vắng mặt.

Cùng HKTT: Khu phố VX, phường CB, thị xã QV, Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn là anh Nguyễn Đăng K trình bày: Anh K và chị Đỗ Thị L kết hôn với nhau từ ngày 04/11/2013. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã CB (nay là phường CB). Sau khi kết hôn, vợ chồng anh K, chị L về chung sống tại khu phố V. Đến năm 2019, vợ chồng anh K, chị L bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, anh K, chị L đều đang lao động tại Nhật Bản nhưng mỗi người một nơi, mỗi người có một cuộc sống riêng. Anh K, chị L đã ly thân nhiều năm. Nay anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho anh được ly hôn chị Đỗ Thị L.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh K, chị L có 01 con chung là cháu Nguyễn Đăng KĐ, sinh ngày 27/6/2014. Từ năm 2016 (khi anh K đi Nhật Bản) đến nay, cháu  KĐ sinh sống với bà nội là Phạm Thị MK tại khu phố V, phường C. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh chị ly hôn, anh đề nghị giao cháu  KĐ cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về cấp dưỡng, anh và chị L tự thỏa thuận với nhau, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết. Về công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết Về án phí: Anh K tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Bị đơn hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản nên Hội đồng xét xử không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ L vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử cho anh Nguyễn Đăng K được ly hôn chị Đỗ Thị L. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Đăng KĐ, sinh ngày 27/6/2014 cho anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Tài sản và công nợ: Không có, không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn đề ngày 12/11/2023, anh Nguyễn Đăng K đề nghị Tòa án xem xét cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị L. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Đăng K, chị Đỗ Thị L có hộ khẩu thường trú tại khu phố V, phường C, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; tại thời điểm thụ L vụ án cả anh K và chị L đều đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về thời gian xuất nhập cảnh của chị L tại Phòng quản L xuất nhập cảnh - Công an tỉnh Bắc Ninh được biết, chị Đỗ Thị L đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 22/8/2023 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Do chị Đỗ Thị L đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Xuân H là bố mẹ đẻ của chị L về việc cung cấp địa chỉ cụ thể của chị L tại Nhật Bản nhưng bà N, ông Hường không cung cấp được cho Tòa án. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L thông qua bà N và bà N cam kết thông báo lại cho anh L nội dung các văn bản tố tụng. Anh L biết việc chị D khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án nhưng không có ý kiến gì. Do vậy, cần xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập cho bà Phạm Thị Minh K1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh K nhưng bà Khương có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Đăng K và chị Đỗ Thị L kết hôn ngày 04/11/2013, tại thời điểm kết hôn anh K và chị L đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và được UBND xã C, huyện Quế Võ (nay là phường C, huyện Quế Võ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, mối quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị L là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc và có 01 con chung là cháu Nguyễn Đăng  KĐ. Đến năm 2019, vợ chồng anh K, chị L bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, anh K, chị L đều đang lao động tại Nhật Bản nhưng mỗi người một nơi, mỗi người có một cuộc sống riêng. Anh K, chị L đã ly thân nhiều năm, không có tiếng nói chung, không liên lạc gì với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Do không lấy được lời khai của chị L, nhưng căn cứ vào lời trình bày của bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Xuân H là bố mẹ đẻ của chị L thì ông bà cũng trình bày về việc anh K, chị L có mâu thuẫn, có thời gian ly thân đúng như anh K trình bày.

Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh K, chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh K là có căn cứ, đủ điều kiện ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K, xử cho anh Nguyễn Đăng K được ly hôn chị Đỗ Thị L.

[2.2]. Về con chung: Vợ chồng anh K, chị L có một con chung là cháu Nguyễn Đăng KĐ, sinh ngày 27/6/2014. Từ khi anh K, chị L đi lao động tại Nhật Bản đến nay, cháu KĐ sinh sống với bà nội tại khu phố V, pH C, cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng bố nên cần giao cháu  KĐ cho anh K tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, anh K không đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng anh K, chị L không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đăng K.

1. Anh Nguyễn Đăng K được ly hôn chị Đỗ Thị L.

2. Giao cháu Nguyễn Đăng KĐ sinh ngày 27/6/2014 cho anh Nguyễn Đăng K chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đỗ Thị L được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Đăng K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh K đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000292 ngày 22/12/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

52
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 11/2025/HNGĐ-ST

Số hiệu:11/2025/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;