TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
BẢN ÁN 298/2024/HS-ST NGÀY 27/09/2024 VỀ TỘI SỬ DỤNG TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 297/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 316/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Quốc D, sinh năm 1999 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: số D ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Hồ Thanh T, sinh năm 1979 và bà Điệp Thị Ngọc Y, sinh năm 1978; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2004; có vợ tên Đoàn Thị Ánh V, sinh năm 2000; có 01 con ruột, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH T3; địa chỉ: số F T, tổ C, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh T1, chức danh: Giám đốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hồ Quốc D là nhân viên lái xe của Công ty TNHH T3. Khoảng tháng 03/2022, bị cáo D sử dụng số điện thoại sim rác có số đuôi “…364” (không nhớ hết số điện thoại) để đăng ký tài khoản trên nền tảng mạng xã hội Facebook có tên tài khoản là “Pun Á Đù” (không nhớ mật khẩu đăng nhập) để cung cấp thông tin căn cước công dân, 01 hình chân dung và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C của bị cáo D cho một tài khoản khác (bị cáo D không nhớ tên tài khoản) để đặt làm một giấy phép lái xe ô tô hạng FC với giá tiền 10.000.000 đồng. Đến tháng 4/2022, bị cáo D nhận được một giấy phép lái xe ô tô hạng FC số 750171019xxx mang tên Hồ Quốc D, do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 11/3/2022 qua nhân viên vận chuyển hàng shipper. Sau khi nhận được giấy phép lái xe ô tô hạng FC thì bị cáo D giao số tiền 10.000.000 đồng cho nhân viên giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) tại nhà địa chỉ: số D ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, bị cáo D cất giữ giấy phép lái xe ô tô hạng FC số 750171019xxx, đến tháng 09/2023 bị cáo D sử dụng giấy phép lái xe ô tô hạng FC số 750171019xxx để xin vào làm việc tại Công ty TNHH T3, địa chỉ: số F đường T, tổ C, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và được Công ty nhận vào để làm lái xe ô tô đầu kéo. Đến ngày 14/12/2023, bị cáo D điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-546.63 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R-233.xx lưu thông trên đường Đ thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 36X2-14xx do chị Lê Thị T2, sinh năm: 1988; thường trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa điều khiển. Hậu quả chị Lê Thị T2 tử vong tại chỗ. Quá trình điều tra xác minh vụ tai nạn giao thông Công an thành phố D phát hiện thu giữ một giấy phép lái xe ô tô hạng FC số 750171019xxx mang tên Hồ Quốc D.
* Vật chứng thu giữ: 01 giấy phép lái xe số 750171019xxx hạng FC, mang tên Hồ Quốc D, sinh năm 1999, địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
* Tại Kết luận giám định số 407/KL-KTHS(TL) ngày 10/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
Một giấy phép lái xe số 750171019xxx hạng FC, mang tên Hồ Quốc D, sinh năm 1999, địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là giả.
* Công văn số 137/SGTVT-VTPTNL ngày 12/01/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh B, xác nhận:
Giấy phép lái xe mang tên Hồ Quốc D, sinh năm: 1999; số GPLX 750171019xxx; Hạng GPLX: FC, do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 11/3/2022; có giá trị đến ngày 11/3/2027 là không có trong hồ sơ quản lý giấy phép lái xe của Sở giao thông vận tải tỉnh B. Sở giao thông vận tải có quản lý số GPLX 750171019xxx, hạng GPLX: C.
Cáo trạng số 303/CT-VKS-DA ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Quốc D về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Hồ Quốc D từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
* Về xử lý vật chứng: 01 giấy phép lái xe số 750171019xxx hạng FC, mang tên Hồ Quốc D, sinh năm 1999, địa chỉ: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đề nghị tịch thu lưu trữ hồ sơ vụ án.
* Công văn số 459/PA05 của Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao – Công an tỉnh B, kết luận:
Qua công tác trích xuất không tìm kiếm được tài khoản có tên “Pun Á Đù”, do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D chỉ cung cấp tên tài khoản Facebook, ngoài ra không có thông tin khác để tiến hành trích xuất thông tin cá nhân, nội dung tin nhắn nên không thể tiến hành các biện pháp tiếp theo.
Đối với ông Nguyễn Thanh T1 là người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T3, ông T1 là người nhận bị cáo D vào lái xe. Ông T1 có xem giấy phép lái xe số 750171019xxx; Hạng GPLX: FC mang tên Hồ Quốc D, do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 11/3/2022; có giá trị đến ngày 11/3/2027 nhưng ông T1 không biết đây là giấy phép lái xe giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý hình sự.
Đối với hành vi của bị cáo D điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C- 546.63 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R-233.xx lưu thông trên đường Đ thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 36X2-14xx do chị Lê Thị T2, sinh năm: 1988; thường trú:
thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa điều khiển làm chị Lê Thị T2 tử vong tại chỗ. Quá trình xác minh, không có căn cứ xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 1697 ngày 15/4/2024.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, không đối đáp. Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo đã rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định tội danh của bị cáo: khoảng tháng 02/2022, bị cáo Hồ Quốc D lên mạng xã hội Facebook sử dụng tài khoản “ Pun Á Đù” cung cấp thông tin cá nhân cho một tài khoản mạng xã hội Facebook khác (không nhớ tên tài khoản) để làm giả 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC số 750171019xxx mang tên Hồ Quốc D nhằm mục đích để xin làm lái xe. Sau khi nhận giấy phép lái xe số 750171019xxx hạng FC, bị cáo Hồ Quốc D đã sử dụng để xin vào làm lái xe cho Công ty TNHH T3. Bị cáo Hồ Quốc D điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C- 546.63 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R-233.xx lưu thông trên đường Đ thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì xảy ra tai nạn giao thông. Quá trình điều tra xác minh vụ tai nạn giao thông Công an thành phố D phát hiện thu giữ một giấy phép lái xe ô tô hạng FC số 750171019xxx của bị cáo Hồ Quốc D là giả.
Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng số 303/CT-VKS-DA ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố bị cáo Hồ Quốc D về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: tội phạm do bị cáo thực hiện là ít nghiêm trọng đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả mục đích để xin làm công việc lái xe, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[6] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, là người lao động.
[7] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: xét bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: theo quy định khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: xét 01 giấy phép lái xe số 750171019xxx hạng FC, mang tên Hồ Quốc D, là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu lưu trong hồ sơ vụ án.
[9] Công văn số 459/PA05 của Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao – Công an tỉnh B, kết luận:
Qua công tác trích xuất không tìm kiếm được tài khoản có tên “Pun Á Đù”, do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D chỉ cung cấp tên tài khoản Facebook, ngoài ra không có thông tin khác để tiến hành trích xuất thông tin cá nhân, nội dung tin nhắn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không thể tiến hành các biện pháp tiếp theo.
[10] Đối với ông Nguyễn Thanh T1 là người đại diện của Công ty TNHH T3, ông T1 là người nhận bị cáo D vào lái xe. Ông T1 có xem giấy phép số 750171019xxx; Hạng GPLX: FC mang tên Hồ Quốc D, do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 11/3/2022; có giá trị đến ngày 11/3/2027 nhưng ông T1 không biết đây là giấy phép lái xe giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý hình sự.
[11] Đối với hành vi của bị cáo D điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C- 546.63 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R-233.xx lưu thông trên đường Đ thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 36X2-14xx do chị Lê Thị T2, sinh năm: 1988; thường trú: thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa điều khiển làm chị Lê Thị T2 tử vong tại chỗ. Quá trình xác minh, không có căn cứ xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 1697 ngày 15/4/2024.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo nhưng theo phân tích ở mục [7] thì Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù đối với bị cáo.
[13] Án phí sơ thẩm: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc D phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Hồ Quốc D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 77/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kể từ khi tuyên án đến khi bị cáo Hồ Quốc D đi chấp hành án phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Lưu trữ trong hồ sơ vụ án: 01(một) giấy phép lái xe số 750171019xxx, hạng FC, mang tên Hồ Quốc D.
3. Về án phí sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Hồ Quốc D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Bản án về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức số 298/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 298/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 27/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về