TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 565/2022/DS-PT NGÀY 14/09/2022 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Trong ngày 07/9/2022 và ngày 14/9/2022, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã mở phiên tòa xét xử công khai đối với vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 629/2017/TLPT-DS ngày 09 tháng 11 năm 2017, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 476/2017/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4620/2022/QĐ-PT ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1944 Địa chỉ: A Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số A T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 1327 ngày 14/01/2016 do Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận).
- Bị đơn:
1. Ông Đặng Văn T, sinh năm: 1960 Địa chỉ: 1 Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1960 Địa chỉ: 1 Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền của bà Trần Thị Tl: Đặng Văn T, sinh năm: 1960.
Địa chỉ: 1 Tỉnh Lộ 43, KhU phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 013508 ngày 15/7/2016 do Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1986 2. Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1988 3. Bà Nguyễn Thị Ngọc V, sinh năm 1990 Cùng địa chỉ: A Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền của bà N1, bà H, bà V: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số A T, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 1328 ngày 14/01/2016 do Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận).
4. Ông Trần Lâm T2, sinh năm 1985 5. Bà Đặng Thị Thu Q, sinh năm 1995 6. Bà Nguyễn Thị Thanh V1, sinh năm 1983 7. Bà Nguyễn Thị Bạch T3, sinh năm 1987 Cùng địa chỉ: 1 Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Ông Trần Minh C, sinh năm 1982 Địa chỉ: 1 Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền của ông Trần Minh C: Đặng Văn T, sinh năm: 1960.
Địa chỉ: 1 Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 013508 ngày 15/7/2016 do Văn phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận).
Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Nguyễn Minh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 16/12/2015 và ngày 08/3/2016, bản tự khai, ý kiến của đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc N trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa trình bày: Toàn bộ phần đất thuộc thửa 562 tờ bản đồ số 1 xã T, huyện T theo tài liệu 299/TTg có nguồn gốc của ông Lâm Văn L cho ông Nguyễn Minh Đ theo tờ ủy quyền ngày 25/5/1980. Năm 1983, ông Nguyễn Minh Đ cho ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 mượn phần đất khoảng 70m2 để xây dựng căn nhà số A Tỉnh lộ 43, khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không làm giấy tờ. Căn nhà số A Tỉnh lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định số 16/QĐ-UB-QLĐT ngày 23/5/2006 của Ủy ban nhân dân quận T chỉ công nhận cho ông T, bà T1 phần nhà đất diện tích 40,5m2. Năm 2005 ông T cho lại con là Trần Minh C sử dụng, ông C xây dựng và lấn chiếm thêm phần diện tích 16,7m2. Nay ông Đ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với toàn bộ phần đất tranh chấp là 93,7m2 thuộc các ô số 2-3-4-5-6-7 theo bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số 20037/ĐĐBĐ-CNTĐ ngày 25/11/2016 do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập (viết tắt là bản đồ hiện trạng số 20037/ĐĐBĐ-CNTĐ) tháo dỡ toàn bộ phần xây dựng và không đồng ý bồi thường tiền xây dựng trên đất, đối với diện tích 21,5m2 thuộc phạm vi 160m2 đã giải quyết ông Đ yêu cầu ông T bà T1 phải trả lại do chiếm dụng bất hợp pháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đặng Văn T là luật sư Trần Văn T4 trình bày: Yêu cầu của ông Nguyễn Minh Đ là không có căn cứ, do đó ông Đặng Văn T và bà Trần Thị T1 không chấp nhận yêu cầu của ông Đ. Riêng phần đất phía trước nhà ông T, là sân xi măng trống, ban công theo bản vẽ đã có từ khi ông T xây dựng nhà năm 2002.
Bị đơn ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 có ông Đặng Văn T đại diện trình bày: Căn nhà số A và số 1241/1/1 Q phường B có số cũ là E đường T, Khu phố B, phường B, quận T, được cấp đổi số nhà theo quyết định số 10585-10586/QĐ-UB ngày 06/7/2004 của Ủy ban nhân dân Quận T. Nhà đất có nguồn gốc của mẹ ông là bà Đặng Thị B sử dụng từ trước năm 1975, năm 1980 cho lại vợ chồng ông, đến năm 2002 ông sửa chữa và sử dụng căn nhà và đất cho đến nay. Năm 1999 ông bà có kê khai, đăng ký sử dụng nhà đất và không liên quan đến phần nhà đất của bà Nguyễn Thị BI được nêu trong quyết định số 1359/QĐ-UBND ngày 23/02/2009 vì phần nhà đất của bà B1 là ở phía trước, thuộc vị trí khu đất 160m2 Ủy ban quận T giải quyết khiếu nại cho ông Đ. Phần đất 21,5m2 là phần sân xi măng ông sử dụng từ trước năm 1983 cho đến nay, bên trên có một ban công nhô ra cũng là thuộc diện tích 160m2 ông trả lại cho ông Đ, việc tháo dỡ ông đề nghị theo quy định của pháp luật. Diện tích 16,7m2 khuôn viên căn nhà số A là phần không tách rời của căn nhà không số đã được Ủy ban nhân dân quận T giải quyết tại quyết định số 16/QĐ-UB-QLĐT ngày 13/4/1999, phần nhà đất này ông đã cho con trai là Trần Minh C sử dụng. Ông và bà T1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ và cũng đã rút toàn bộ yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp bồi thường thiệt hại do cưỡng chế tháo dỡ căn nhà tạm. Trường hợp phải tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích 21,5m2 ông sẽ có yêu cầu khởi kiện riêng nếu có thiệt hại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh C có ông Đặng Văn T đại diện trình bày: Ông C là con của ông, căn nhà số A Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T do vợ chồng ông cho lại C sử dụng ổn định từ năm 2005. Sau đó C sửa chữa căn nhà như hiện nay mà không thay đổi diện tích.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích N1, Nguyễn Thị Bích H, Nguyễn Thị Ngọc V ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc N đại diện trình bày: Các bà là con của ông Nguyễn Minh Đ và bà Võ Ngọc L1, bà L1 chết năm 1998. Các bà thống nhất với ý kiến của ông Đ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Lâm T2, bà Đặng Thị Thu Q, bà Nguyễn Thị Thanh V1, bà Nguyễn Thị Bạch T3 vắng mặt nhưng có lời khai: Các ông bà là con của ông Đặng Văn T và bà Trần Thị T1, đang ở tại nhà số A Tỉnh Lộ 43, Khu phố B, phường B, quận T. Các ông bà nhất trí với ý kiến của ông T bà T1.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1, ông Trần Minh C có ông T đại diện không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bích N1, Nguyễn Thị Bích H, Nguyễn Thị Ngọc V ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc N trình bày: Các bà thống nhất với ý kiến của ông Đ.
Nội dung hai bên đã thống nhất được với nhau: Không.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 đã có quá trình sử dụng ổn định, liên tục, có kê khai và đóng thuế đối với phần nhà đất tranh chấp. Yêu cầu của ông Nguyễn Minh Đ là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 do rút yêu cầu khởi kiện.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 476/2017/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức đã quyết định:
- Áp dụng Khoản 2 Điều 26; Điểm c Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 217, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 245, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 164, 170, điểm a Khoản 2 Điều 173 Bộ Luật dân sự 2005.
- Áp dụng Điều 99; Điều 100; Điều 101; Điều 166; Điều 168; Điều 170 và Điều 195 của Luật đất đai năm 2013 - Áp dụng khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án;
- Áp dụng khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu của ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 về tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại do cưỡng chế tháo dỡ căn nhà tạm với ông Nguyễn Minh Đ.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Minh Đ và ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 đối với phần diện tích 21,5m2 thuộc ô số 2-3 theo bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số 20037/ĐĐBĐ-CNTĐ do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và môi trường Thành phố H lập ngày 25/11/2016.
3. Bác toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Minh Đ đối với ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 và ông Trần Minh C về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, tháo dỡ công trình xây dựng và giao trả lại phần đất diện tích 72,2 m2 thuộc các ô số 4-5- 6-7 theo bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số 20037/ĐĐBĐ-CNTĐ do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 25/11/2016.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Minh Đ: Buộc ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 phải tháo dỡ công trình xây dựng phía trên và không gian của phần diện tích 21,5 m2 thuộc ô số 2-3 theo bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh và bản vẽ hiện trạng nhà số 20037/ĐĐBĐ-CNTĐ do Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 25/11/2016.
Ông Nguyễn Minh Đ phải tự chịu chi phí đo vẽ.
5. Dành cho ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1, quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại về tháo dỡ công trình xây dựng bằng một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu.
6. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Văn T, bà Trần Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 372.750 đồng (Ba trăm bảy mươi hai ngàn bảy trăm năm mươi đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 12.703.920 đồng (Mười hai triệu bảy trăm lẻ ba ngàn chín trăm hai mươi đồng) theo biên lai thu số AE/2011/07329 ngày 01/6/2015 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức, trả lại cho bà T1 ông T số tiền chênh lệch còn lại là 12.331.170 đồng (Mười hai triệu ba trăm ba mươi mốt ngàn một trăm bảy mươi đồng) Ông Nguyễn Minh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 38.467.250 đồng (Ba mươi tám triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn hai trăm năm mươi đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp là 2.387.500 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi bảy ngàn năm trăm đồng) theo biên lai thu số AE/2014/007465 ngày 25/3/2016 và 6.310.000 đồng (Sáu triệu ba trăm mười ngàn đồng) theo biên lai thu số AE/2014/0007141 ngày 14/01/2016 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thủ Đức, ông Đ còn phải nộp thêm số tiền là 29.769.750 đồng (hai mươi chín triệu bảy trăm sáu mươi chín ngàn bảy trăm năm mươi đồng) 7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với các đương sự vắng mặt là 15 ngày tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
Ngày 12/10/2017, ông Nguyễn Minh Đ là nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với nội dung và yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức giải quyết lại vụ án theo trình tự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Ngọc N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm, lý do hủy án sơ thẩm là:
- Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án về yêu cầu của nguyên đơn đề nghị Tòa án tuyên buộc các bị đơn cùng có trách nhiệm trả lại quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng đối với diện tích đất 21,5m2 là phần diện tích thuộc trong phần diện tích đất 160m2 đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H công nhận quyền sử dụng cho ông Nguyễn Minh Đ tại Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 16/5/2011. Cơ sở của việc Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với yêu cầu nhu vừa xác định của ông Nguyễn Minh Đ là hoàn toàn trái pháp luật do:
Ngày 17/01/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T cũ đã tổ chức cưỡng chế thực hiện Quyết định số số 2399/QĐ-UBND ngày 16/5/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H (bút lục số 313 và 312). Theo đó, cơ quan nhà nước cấp có thẩm quyền đã giao đủ diện tích đất 160m2 cho ông Nguyễn Minh Đ, nhưng sau đó, thì vợ chồng bị đơn là ông Đặng Văn T và bà Trần Thị T1 đã tái chiếm một phần diện tích theo đo đạc thực tế là 21,5 m2 được xác định tại vị trí số 2 và số 3 trong Tờ bản đồ hiện trạng - vị trí xác định ranh được lập ngày 25/11/2016.
Hành vi xâm phạm quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng diện tích đất 21,5m2 đã được xác định nêu trên chính là hành vi trái pháp luật và người bị xâm phạm là ông Nguyễn Minh Đ thì theo luật định, ông Nguyễn Minh Đ có quyền kiện tại Tòa án nhân dân quận Thủ Đức căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 166 Luật đất đai năm 2013, theo quy định tại Điều 255, Điều 256 Bộ Luật dân sự năm 2005 nay được chuyển hóa thành khoản 1 Điều 163 và khoản 1 Điều 166 cùng Bộ Luật dân sự năm 2015 và theo quy định tại Điều 17 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Ông Lâm Văn L là người đứng tên chủ đất diện tích 8.750 m2 (theo trích sao sổ địa bộ số 231/TS-VPĐK-LT ngày 12/6/2013 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H) đã ủy quyền toàn bộ đất cho ông Nguyễn Minh Đ (nguyên đơn) theo Tờ ủy quyền ngày 25/5/1980. Ông Lâm Văn L chết ngày 17/5/1999 (Giấy chứng tử số 26/KT/99 quyển số 04 được sao từ sổ đăng ký khai tử ngày 11/10/2013 tại UBND phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương). Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ông Lâm Văn L có những người thừa kế gồm: Ông Lâm Văn Đ1, bà Lâm Ngọc C1, ông Lâm Văn T5 là con của ông L. Án sơ thẩm nhận định việc cam kết hoặc xác nhận của các người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lâm Văn L đối với ông Đ chỉ mang tính tham khảo nhung không đưa những người này vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đầy đủ việc thu thập chứng cứ giải quyết toàn diện vụ án, vi phạm thủ tục tố tụng.
- Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định không đúng, xác định sai về quan hệ tranh chấp căn cứ theo quy định tại Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo nguyên đơn, tranh chấp trong vụ án là tranh chấp các quyền về tài sản. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp giữa ông Đ với các bị đơn là “tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại” là không đúng bản chất của vụ án.
Ngoài ra phía nguyên đơn còn nêu các lý do khác về việc thu thập chứng cứ, việc áp dụng pháp luật và việc đánh giá chứng cứ chưa đúng để quyết định trong bản án sơ thẩm là gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là ông Đặng Văn T và bà Trần Thị T1 do ông T làm người đại diện theo ủy quyền không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị Thu Q cũng đồng ý với yêu cầu của ông T, bà T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:
Về chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh Đ làm và nộp trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ là không có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận. Ông Nguyễn Minh Đ là người cao tuổi có nộp đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm về phần án phí miễn toàn bộ án phí cho ông Đ. Các phần khác của bản án sơ thẩm đề nghị giữ nguyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã động viên hòa giải, các bên đương sự cũng đã có thời gian tự thương lượng, hòa giải nhưng không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngày 28/9/2017 Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm và tuyên án vụ án. Nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ nộp đơn kháng cáo bản án vào ngày 12/10/2017 là còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Minh Đ đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định tại Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ được chấp nhận xem xét tại cấp phúc thẩm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo gồm: Ông Trần Lâm T2, bà Nguyễn Thị Thanh V1, bà Nguyễn Thị Bạch T3 xin vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn là ông Nguyễn Minh Đ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ không đầy đủ để xét xử vụ án.
Xét: Căn cứ đơn phản tố của ông Nguyễn Minh Đ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Đã rút đơn kiện) là ông Đặng Văn T và bà Trần Thị T1 ngày 16/12/2015 và 29/12/2015, xác định yêu cầu của ông Nguyễn Minh Đ đối với ông T, bà T1 cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía ông T, bà T1 cùng có trách nhiệm trả lại quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng đối với diện tích đất 18m2 (sau khi đo đạc có diện tích là 21,5m2) là phần diện tích thuộc trong phần diện tích đất 160m2 đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H công nhận quyền sử dụng cho ông Nguyễn Minh Đ tại Quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 16/5/2011. Ông Nguyễn Minh Đ không tranh chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên với ông T, bà T1. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm nhận định phần diện tích 21,5m2 này đã được Ủy ban nhân dân quận T giải quyết tại Quyết định số 1359/QĐ-UBND ngày 23/02/2009 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H giải quyết khiếu nại tại quyết định số 2399/QĐ-UBND ngày 16/5/2011 nên căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu tranh chấp phần đất này do đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Xét thấy, lý do yêu cầu hủy án sơ thẩm nội dung này là có căn cứ vì phía nguyên đơn xác định không tranh chấp về quyền sử dụng đất đối với diện tích 21,5m2 với bị đơn mà tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất (đã được công nhận) mà phía bị đơn đang tái chiếm sử dụng, cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận giải quyết yêu cầu phía bị đơn tháo dỡ phần xây dựng của không gian trên diện tích 21,5m2 nhưng không tuyên rõ cụ thể gồm những vật liệu gì, phương thức và thời hạn thi hành như thế nào? Nếu bị đơn tháo dỡ phần xây dựng trên phần không gian nêu trên nhưng không xem xét giải quyết yêu cầu giao trả đất cho ông Đ thì việc thi hành án có khả thi không? Quyền lợi của ông Nguyễn Minh Đ không được bảo vệ theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, theo các quyết định giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Đ với gia đình ông T mà Ủy ban nhân dân các cấp đã giải quyết thì ông Đ đã được Ủy ban nhân dân Quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL863765 ngày 16/5/2013 diện tích là 142m2 trên tổng diện tích 160m2, như vậy diện tích được công nhận còn lại là 18m2 nhưng ông Đ đòi phía ông T trả lại 21,5m2 nhưng cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết mà đình chỉ yêu cầu của ông Đ là chưa đúng, chưa làm rõ phần chênh lệch diện tích lớn hơn yêu cầu khởi kiện ban đầu. Như vậy vi phạm về thủ tục tố tụng này cấp phúc thẩm không thể xem xét giải quyết tại phiên tòa phúc thẩm được.
Do nhận thấy cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cần hủy án sơ thẩm nên các nội dung kháng cáo khác của ông Nguyễn Minh Đ Hội đồng xét xử không xem xét về nội dung. Ông Nguyễn Minh Đ sẽ cung cấp chứng cứ và yêu cầu tại cấp sơ thẩm khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ.
Về án phí: Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều là những người cao tuổi và cùng có đơn xin miễn án phí, do đó cấp sơ thẩm khi giải quyết lại vụ án cần xem xét miễn án phí cho đương sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 293; Khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án năm 2009;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 476/2017/DS-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân quận thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết khi thụ lý giải quyết lại vụ án.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Minh Đ được miễn án phí phúc thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Minh Đ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2017/0037307 ngày 18/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại số 565/2022/DS-PT
| Số hiệu: | 565/2022/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 14/09/2022 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về