TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 514/2024/DS-PT NGÀY 05/09/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 341/2024/TLPT-DS ngày 12/7/2024, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 54/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 487/2024/QĐ-PT ngày 25/7/2024, giữa:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Anh Dương Nhật Đ, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phạm Hoàng L - Chi nhánh Công ty L2 tại Cần Thơ.
Địa chỉ: Số F, đường số C, khu dân cư C - H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị G, sinh năm 1953; Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958;
3. Chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1985;
4. Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1988;
5. Anh Nguyễn Vũ L1, sinh năm 1994;
6. Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn H là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn anh Nguyễn Duy N và người đại diện hợp pháp anh Dương Nhật Đ trình bày:
Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp trên là của ông nội anh N là ông Nguyễn Văn B1 (Chết năm 2015). Sau đó, đến năm 2011 thì ông B1 làm thủ tục tặng cho các phần đất của ông B1 lại cho con ruột là bà Nguyễn Thị S (Bà S là cô ruột của anh N) trong đó có phần ăn của anh N, do anh N còn nhỏ nên nhờ bà S đứng tên giùm. Đến năm 2018, bà S làm thủ tục chuyển nhượng (Thực chất là sang tên phần ăn trên lại cho anh N), đến ngày 21/8/2018 thì anh N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.885m2, thuộc thừa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã Đ. Sau khi được cấp giấy thì anh N sử dụng liên tục từ đó cho đến nay. Trong quá trình sử dụng thì phía ông H có lấn chiếm của anh N phần đất chiều ngang 73m, chiều dài 20m, diện tích 1.460m2. Đối với vụ án này trước đây anh N có khởi kiện do Tòa án huyện T đã có thụ lý giải quyết và đã đo đạc xong. Nay anh N thống nhất sử dụng Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 để giải quyết trong vụ án này. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh N đang giữ tại nhà không có thực hiện giao dịch nào. Đối với bà G là người đang cắt nhà ở trên phần đất này thì bà G đã có ý kiến trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất này thuộc về anh N thì bà G sẽ tự di dời nhà và các tài sản có trên đất để trả lại cho anh N và bà G không có yêu cầu hỗ trợ gì. Về việc này thì anh N thống nhất với ý kiến trên của bà G và anh N tự nguyện hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng chi phí di dời nhà. Đồng thời, anh N không có yêu cầu gì đối với bà G. Đối với phần đất trên là tài sản của cá nhân anh N, không phải là tài sản chung với bất kỳ ai.
Nay, anh N yêu cầu giải quyết buộc ông H, bà B1, chị A, anh P, anh L1 và chị T trả lại phần đất diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m2, thuộc 01 phần thừa số 1186, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do anh N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, anh N không còn trình bày và yêu cầu gì khác.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông không thống nhất. Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp trước đây do ông nội của ông là cụ Nguyễn Văn H1 (Chết trước năm 1975) khai phá mà có được. Sau đó, cụ H1 có chia đất cho các người con tên là ông Nguyễn Văn H2 (Là cha của ông H và đã chết năm 1980) và ông Nguyễn Văn B1 (Là ông nội của anh N). Sau đó, ông H2 cho phần đất này lại em ruột của ông là ông Nguyễn Văn M. Đến năm 1992 thì ông M chuyển nhượng phần đất trên lại cho ông với giá 2,6 lượng vàng 24kara, đến năm 1995 thì ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, đến năm 2021 thì ông đã đổi lại giấy mới. Ông quản lý và sử dụng phần đất trên từ năm 1992 đến nay. Thời điểm cụ H1, ông H2 và ông M quản lý và sử dụng đất thì phần đất chưa được cấp giấy. Trước đây, ông nội của ông có cho ông B1 một cái nền nhà nên diện tích ông chi phần đất của anh N như sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 là đúng. Nay ông thống nhất sử dụng Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 để giải quyết trong vụ án này. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án lấy các tài liệu, chứng cứ bên hồ sơ của đã được thụ lý trước đây qua để làm căn cứ giải quyết trong vụ án này và thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B1. Đối với hiện trạng phần đất đang tranh chấp không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Hiện nay, trong hộ của ông gồm: Ông, bà B1, chị A, anh P, anh L1, chị T, còn có các cháu nữa nhưng các cháu còn rất nhỏ, ngoài ra không còn ai khác. Đối với phần đất có nhà chính của ông thì hiện do ông đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn phần đất phía sau tiếp giáp với phần đất đang tranh chấp thuộc thửa số 1187 do con của ông là anh L1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với các cây trồng, kiến trúc và cá nuôi trên phần đất đang tranh chấp là tài sản chung vợ chồng ông, các con của ông không có công sức đóng góp gì vào các tài sản này.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của anh N thì ông không đồng ý trả theo toàn bộ yêu cầu của anh N, vì ông không có chiếm đất gì của anh N. Trong trường hợp giải quyết phần đất trên là của ông thì ông sẽ cho bà G ở cho đến khi chết. Trong trường hợp giải quyết phần đất trên là của anh N thì ông sẽ tự di dời hết các tài sản trên và không yêu cầu bồi thường hoặc hỗ trợ gì. Ngoài ra, ông không còn trình bày và yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị G trình bày:
Bà là chị dâu của ông H, hiện nay bà đang sống một minh hoàn cảnh khó khăn không có nhà để ở nên ông H đã cho bà cất nhà trên phần đất này để ở. Bà cất nhà vào ngày 19/4/2022 (Âm lịch) và bà sống một minh trên căn nhà này từ đó cho đến nay. Căn nhà này là do bà con gần đó thấy hoàn cảnh của bà nên thương tình có người cho tiền, có người cho cây, tol … để bà cất được căn nhà như hiện nay, bà cất căn nhà này giá trị khoảng 30.000.000 đồng. Bà xác định là bà ở nhờ trên phần đất của ông H. Trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất trên thuộc về ông H thì ông H đã hứa cho bà ở đến khi chết, còn trong trường hợp Tòa án phán quyết phần đất trên thuộc về anh N thì bà sẽ tự di dời nhà và các tài sản có trên đất để trả lại cho anh N và bà không có yêu cầu hỗ trợ hoặc bồi thường gì. Đối với vụ án này bà không có yêu cầu gì. Ngoài ra, bà không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh P trình bày:
Anh là con ruột của ông H, anh thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông H. Đối với phần đất và tài sản có trên đất đang tranh chấp là tài sản của ông H và bà B1, anh không có công sức đóng góp gì vào các tài sản này. Nay anh không có yêu cầu gì. Ngoài ra, anh không còn trình bày và yêu cầu gì khác.
- Đối với bà B1, chị A, anh L1 và chị T mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, các phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến gì.
Bản án dân sự sơ thẩm 54/2022/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười quyết định:
Căn cứ Điều 100, Điều 166 và Điều 203 của Luật đất đai; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 246, Điều 264, Điều 267 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 15, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy N. Buộc hộ ông Nguyễn Văn H và các thành viên trong hộ gồm bà Nguyễn Thị B, chị Nguyễn Thị Thúy A, anh Nguyễn Thanh P, anh Nguyễn Vũ L1, chị Nguyễn Thị Thanh T (Gọi tắt là hộ ông H) phải trả lại cho anh N phần đất (Đất ở tại nông thôn) diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m2, trong phạm vi các mốc F8, F9, M5, L2, L1, M2, M11, M10, M9, M8 trở về mốc F8, tại 01 phần thừa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
- Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D.
- Anh N và hộ ông H được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Anh N đồng ý tự nguyện trả lại cho ông H 5.000.000 đồng chi phí thuê kô be múc đất.
- Anh N đồng ý tự nguyện hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng chi phí di dời nhà.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
2. Về cây trồng, kiến trúc và tài sản có trên đất:
- Hộ ông H phải di dời toàn bộ cây trồng và kiến trúc (Theo như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D) và cá nuôi trong ao nằm trên phần đất diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m2, trong phạm vi các mốc F8, F9, M5, L2, L1, M2, M11, M10, M9, M8 trở về mốc F8, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
- Bà G phải di dời toàn bộ kiến trúc (Theo như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D) nằm trên phần đất diện tích đo đạc thực tế là 44m2, trong phạm vi các mốc ML, MM, MG, MH, MI, MK trở về mốc ML, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
3. Về chi phí tố tụng: Hộ ông H phải liên đới chịu 1.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá. Đối với số tiền này do anh N đã tạm ứng và chỉ xong nên hộ ông H phải có nghĩa vụ liên đới nộp lại số tiền này để trả lại cho anh N.
4. Về án phí:
- Anh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh N 4.380.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0007681, ngày 01/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Hộ ông H được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm ông H kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt ông H, luật sư L, anh Đ, anh N, anh L1. Các đương sự có mặt và khẳng định đã xuất trình đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án.
Luật sư L trình bày: Đất ông H sử dụng từ năm 1992 đến nay. Bà S không có ý kiến gì. Ông B đăng ký quyền sử dụng đất thì không có sử dụng đất toàn bộ diện tích mà chỉ sử dụng diện tích đất nền nhà. Do cấp quyền sử dụng đất không có đo đạc đất ông H để xác định diện tích đất ông H còn lại. Khi Tòa án sơ thẩm đo đạc đất không yêu cầu ông M làm người làm chứng xác định ranh đất chuyển nhượng. Việc cấp quyền sử dụng đất theo ông B, bà S là không có đo đạc thực tế. Hiện trạng đất ông H sử dụng trên 30 năm không thay đổi nên đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H.
Ông H trình bày: Thống nhất ý kiến của Luật sư L.
Anh Đ trình bày: Đất ông B, ông H cũng đã đăng ký quyền sử dụng đất. Ông H không đăng ký quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp. Ông H đã xác định các phần đất ông chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Văn M. Phần đất này không cấp trùng với thửa đất 1186 ông B đăng ký. Hiện nay do anh N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Anh N trình bày: Thống nhất lời trình bày của anh Đ, không có ý kiến gì thêm.
Anh Linh: Không có yêu cầu gì trong vụ án, không có tranh chấp gì trong vụ án.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp các đương sự thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án xét yêu cầu kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thành phần những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng thì các đương sự thống nhất không có ai có yêu cầu bổ sung hay khiếu nại.
[2] Về nội dung tranh chấp qua thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm xác định như sau:
- Về nguồn gốc phần đất thì các đương sự đều xác định là của cụ Nguyễn Văn T1 cho các con là ông Nguyễn Văn B1 (Là ông nội của anh N) và ông Nguyễn Văn H2 (Là cha của ông H). Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự vì được các bên đương sự thống nhất thừa nhận.
- Xét thấy, đối với ông H2 sau khi được cha cho đất thì cho phần đất này cho lại con là Nguyễn Văn M. Sau đó, ông M chuyển nhượng phần đất này lại cho ông H. Vào năm 1995, ông B1 và ông H đều đi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, ông B1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1186 (Là phần đất đang tranh chấp), còn ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 1198 và 2299 (Liển kề với thửa số 1186). Theo ông H trình bày phần đất đang tranh chấp là của ông H, còn ông B1 chỉ được cho 01 nền nhà diện tích khoảng 286,2m2. Tuy nhiên, ông H không đăng ký kê khai phần đất này mà người kê khai là ông B1 và ông B1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, từ năm 1995 đến nay thì ông H cũng không có khiếu nại hoặc khởi kiện gì về việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B1, bà S và anh N. Ngoài ra, theo Công văn số 6871/CNTM-KTĐC ngày 01/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T về việc chồng ghép, tiếp biên sơ đồ đo đạc của Công ty TNHH D đã xác định phần đất đang tranh chấp trong phạm vi các mốc F1, F2, F7, F6, F5, M6, F9, M5, M4, M3, M2, M11 trở về mốc F1 do anh N xác định so với bản đồ 299 tương ứng với thửa số số 1186 do anh N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01 phần diện tích 84,3m2 thuộc thửa số 1198 do ông H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra, mặc dù ông H có xây dựng 01 phần sàn nước, chuồng heo, đào ao phía sau để thả cá nuôi, trồng cây nhưng các việc này đều diễn ra sau khi ông B1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, có đủ cơ sở xác định lời trình bày của anh N là có cơ sở, còn lời trình bày của ông H là không có cơ sở.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của anh N là có căn cứ nên chấp nhận.
[3] Đối với phần đất chênh lệch (Diện tích là 458,9m2) giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Diện tích là 1.885m2) so với đo đạc thực tế (Diện tích là 1.426,1m2). Phía anh N cho rằng là do quá trình sạt lở bờ kênh và mở rộng đường lộ nên anh N không có khiếu nại gì và thống nhất với diện tích đo đạc thực tế.
[4] Đối với các cây trồng, kiến trúc và tài sản có trên đất:
- Đối với các cây trồng, kiến trúc và tài sản của ông H theo như Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Sơ đồ đo đạc của Tòa án thì như phân tích ở phần trên, nên chấp nhận yêu cầu của anh N. Do đó, đối với các cây trồng, kiến trúc và tài sản này thì ông H phải có nghĩa vụ di dời theo quy định pháp luật.
- Đối với kiến trúc của bà G theo như Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và Sơ đồ đo đạc của Tòa án thì như phân tích ở phần trên, do chấp nhận yêu cầu của anh N. Do đó, đối với kiến trúc này thì G phải có nghĩa vụ di dời theo quy định pháp luật. Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện của anh N về việc hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng chi phí di dời nhà.
[5] Đối với công sức cải tạo đất mặc dù ông H không có yêu cầu gì nhưng anh N tự nguyện trả lại cho ông H 5.000.000 đồng tiền thuê kôbe múc đất. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của anh N về việc trả lại cho ông H 5.000.000 đồng tiền thuê kô be múc đất.
[6] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[7] Đồng thời căn cứ vào đây quyết định về án phí, chi phí tố tụng như bản án sơ thẩm.
[8] Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Ông H không cung cấp chứng cứ tài liệu gì mới. Đối với nhưng nội dung yêu cầu kháng cáo ông H nêu ra Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy ông H cũng đã trình bày và yêu cầu đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết đúng quy định pháp luật. Việc ông H yêu cầu công nhận đất cho ông nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Ngoài ra ông H cũng thừa nhận phần đất này ông B1 và ông H đi đăng ký quyền sử dụng đất cùng một thời gian theo thông báo nhà nước nhưng ông không có đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1186 đang tranh chấp. Sau này trước khi tranh chấp ông cũng đà đồi lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông đã được cấp. Ông cũng không có ý kiến tranh chấp gì về thửa đất 1186. Việc ông cho rằng sử dụng đất từ năm 1992 nhưng không có gì chứng minh vì phần đất ao là có sẵn một phần đất ao ông nuôi ếch, trồng cây là thời gian khoảng năm 2017. Bà G chỉ cất nhà ở sau năm 2021. Ông H, ông N thống nhất đất tranh chấp bà Phạm Thị H3 (mẹ anh N) có cho ông Tám M1 (em ruột anh H) phần cây gáo và dừa trên đất tranh chấp. Điều này cũng thể hiện sự quản lý đất của gia đình anh N đất tranh chấp. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[10] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên ông H phải chịu án phí phúc thẩm. Nhưng do ông H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ưỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giam, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H.
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Duy N. Buộc hộ ông Nguyễn Văn H và các thành viên trong hộ gồm bà Nguyễn Thị B, chị Nguyễn Thị Thúy A, anh Nguyễn Thanh P, anh Nguyễn Vũ L1, chị Nguyễn Thị Thanh T (Gọi tắt là hộ ông H) phải trả lại cho anh N phần đất (Đất ở tại nông thôn) diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m2, trong phạm vi các mốc F8, F9, M5, L2, L1, M2, M11, M10, M9, M8 trở về mốc F8, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
- Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D.
- Anh N và hộ ông H được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Anh N đồng ý tự nguyện trả lại cho ông H 5.000.000 đồng chi phí thuê kô be múc đất.
- Anh N đồng ý tự nguyện hỗ trợ cho bà G 10.000.000 đồng chi phí di dời nhà.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
2. Về cây trồng, kiến trúc và tài sản có trên đất:
- Hộ ông H phải di dời toàn bộ cây trồng và kiến trúc (Theo như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D) và cá nuôi trong ao nằm trên phần đất diện tích đo đạc thực tế là 1.139,9m2, trong phạm vi các mốc F8, F9, M5, T2, LI, M2, Mil, M10, M9, M8 trở về mốc F8, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
- Bà G phải di dời toàn bộ kiến trúc (Theo như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/8/2022 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 02/11/2021 và phụ lục ngày 09/01/2024 của Công ty TNHH D) nằm trên phần đất diện tích đo đạc thực tế là 44m2, trong phạm vi các mốc ML, MM, MG, MH, MI, MK trở về mốc ML, tại 01 phần thửa số 1186, tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Duy N vào ngày 21/8/2018.
3. Về chi phí tố tụng:
- Hộ ông H phải liên đới chịu 1.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá. Đối với số tiền này do anh N đã tạm ứng và chi xong nên hộ ông H phải có nghĩa vụ liên đới nộp lại số tiền này để trả lại cho anh N.
4. Về án phí, chi phí dân sự sơ thẩm:
- Anh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh N 4.380.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số 0007681, ngày 01/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Hộ ông H được miễn nộp tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Văn H được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất số 514/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 514/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 05/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về