Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 687/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 687/2024/DS-PT NGÀY 28/08/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2024/TLPTDS ngày 23 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2298/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Văn Q, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).

Đại diện ủy quyền của ông Q: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số B, đường số C, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn:

1. Ông Trần Văn T1, sinh năm 1964; Địa chỉ: ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).

2. Bà Dương Thị L, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt).

Đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà L: Ông Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1958; Địa chỉ: số E, T, khu phố C, phường B, thành phố T, tỉnh Long An, theo văn bản ủy quyền ngày 04/06/2022 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện huyện T, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Thành Y, Phó Chủ tịch UBND huyện T, theo văn bản ủy quyền số 543 ngày 17/03/2022 (có đơn xin vắng).

2. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L. Người đại diện theo ủy quyền là ông Đỗ Xuân Y1, Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T, theo giấy ủy quyền ngày 14/8/2023 (có mặt).

3. Bà Huỳnh Thị L2, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An (có mặt).

Người kháng cáo: Ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L.

Người kháng nghị: Viện trưởng VKSND tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Dương Văn Q trình bày:

Các thửa đất số 1040, 1041, 1892 và 1893, tờ bản đồ số 7 có nguồn gốc là của ông Ngô Văn T2 và bà Dương Thị K được đưa vào Tập đoàn 10 của xã H B. Năm 1985, Tập đoàn A ngừng hoạt động thì ông được Tập đoàn giao lại nhưng không có lập biên bản bàn giao hiện trạng thửa đất, không có cắm mốc ranh giới, đo đạc thực tế. Ông quản lý sử dụng các thửa đất nêu trên cho đến năm 1997 thì đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có cắm mốc ranh giới và đo đạc thực tế.

Quá trình sử dụng đất thì ông trồng lúa và canh tác ổn định trên phần đất nêu trên. Đến khoảng năm 2020, khi ông đồ đất và san lấp mặt bằng trên các thửa đất số 1040, 1041, 1892 và 1893, tờ bản đồ số 7 thì phát hiện ông Trần Văn T1 và bà Dương Thị L lấn chiếm quyền sử dụng đất của ông gồm:

Phần diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 7, có diện tích là: 20m2 + 56,3m2 + 52,5m2 = 128,8m2.

Phần diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 7, có diện tích là: 47,1m2 + 22,9m2 + 11,9m2= 81,9m2.

Phần diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số 1892, tờ bản đồ số 7, có diện tích là: 56,4m2 + 22,1m2 + 38,6m2 = 117,1m2.

Tổng diện tích phần đất đang tranh chấp thực tế tại 03 thửa đất số 1040, 1041 và 1892, tờ bản đồ số 7 là 327,8 m2.

Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T1 và bà Dương Thị L trả lại phần đất tranh chấp diện tích đo đạc thực tế là 327,8m2, thuộc một phần các thửa đất số 1040, 1041 và 1892, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An vì các phần thửa đất tranh chấp nêu trên ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với công trình xây dựng trên Kênh thủy lợi là phần đất của nhà nước, tiếp giáp với đường giao thông Gò Pháo thì ông không tranh chấp đối với phần đất này.

Đối với kết quả đo vẽ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ ngày 10/01/2022 và chứng thư thẩm định giá số 09.LA/03/22/CTTPG.APAK ngày 01/3/2022 của Công ty Cổ phần T3 thì ông thống nhất, không có ý kiến gì.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L là ông Nguyễn Hoàng L1 trình bày: các thửa đất số 1034, 1035, 1890 và 1891, tờ bản đồ số 7 là của ông Ngô Văn T2 và bà Dương Thị K tặng cho vợ chồng ông bà và sử dụng ổn định từ năm 1987 cho đến năm 2020 thì các bên xảy ra tranh chấp.

Nay, vợ chồng ông T1, bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi vì quyền sử dụng đất là của vợ chồng ông T1, bà L sử dụng từ năm 1987 đến nay, các bên đã cắm ranh giới trước sau. Đồng thời, vợ chồng ông T1, bà L có đơn phản tố yêu cầu Tòa án xem xét hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Dương Văn Q gồm một phần các thửa đất số 1040, 1041 và 1892, tờ bản đồ số 7, diện tích đo đạc thực tế là 327,8 m2, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An để cấp lại cho ông T1, bà L theo đúng hiện trạng đang quản lý, sử dụng.

Đối với công trình xây dựng trên Kênh thủy lợi là phần đất của nhà nước, tiếp giáp với đường giao thông Gò P thì ông T1, bà L không tranh chấp đối với phần đất này.

Đối với kết quả đo vẽ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ ngày 10/01/2022 và chứng thư thẩm định giá số 09.LA/03/22/CTTPG.APAK ngày 01/3/2022 của Công ty Cổ phần thẩm định giá An Phú An K1 thì ông T1, bà L thống nhất, không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị L2 trình bày: bà là vợ ông Q, bà thống nhất với lời trình bày của ông Q, không có ý kiến bổ sung.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Tại Công văn số 1744/UBND-NC ngày 19/7/2023, có ý kiến trình bày:

- Ngày 18/6/1997, ông Dương Văn Q, sinh năm 1969, cư ngụ tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành K 590541, số vào số 265, trong đó có các thửa đất số: 1079, 1082, 1083, 1085, tờ bản đồ số 6, tổng diện tích 4.835m2, mục đích sử dụng đất: đất chuyên trồng lúa nước, đất ở tại nông thôn, đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An. Hồ sơ cấp giấy trên cơ sở xét duyệt, đề nghị của UBND xã H B, không có đo đạc thực tế.

- Ngày 05/6/2014, ông Dương Văn Q, sinh năm 1969, cư ngụ tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BO 612472, số vào số CH03766, thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.275,7m², mục đích sử dụng đất: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An (cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án đo đạc thành lập bản đồ địa chính mới xã H B từ một phần thừa đất số 1079, tờ bản đồ số 6 cũ). Hồ sơ cấp giấy có đo đạc thực tế.

- Ngày 20/11/2017, ông Dương Văn Q, sinh năm 1969, cư ngụ tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL 060522, số vào sổ CS06601, thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 7, diện tích 766,7m², mục đích sử dụng đất: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An (cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án đo đạc thành lập bản đồ địa chính mới xã H B từ thửa đất số 1083, một phần thừa thửa đất số 1085, tờ bản đồ số 6 cũ). Hồ sơ cấp giấy có đo đạc thực tế.

- Ngày 20/11/2017, ông Dương Văn Q, sinh năm 1969, cư ngụ tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Long An, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL 060521, số vào sổ CS06602, thửa đất số 1892, tờ bản đồ số 7, diện tích 167,2m², mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An (cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo dự án đo đạc thành lập bản đồ địa chính mới xã H B từ một phần thừa đất số 1082, tờ bản đồ số 6 cũ). Hồ sơ cấp giấy có đo đạc thực tế.

Như vậy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Dương Văn Q đối với thửa đất số 1040, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.275,7m², mục đích sử dụng đất: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An là đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phân tố của bị đơn, UBND huyện T có ý kiến như sau: đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An lấy ý kiến của Sở T, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Dương Văn Q đối với các thửa đất số: 1041, 1892, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An (Giấy chứng nhận do Sở T cấp).

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Tại Công văn số 6180/STNMT-VPĐKĐD ngày 15/8/2023 có ý kiến trình bày:

Ông Dương Văn Q được UBND huyện T, tỉnh Long An ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành K 590541 (số vào sổ cấp GCN: 265 QSDĐ/1408-LA) ngày cấp 18/6/1997. Trong đó có các thửa đất số 1080, tờ bản đồ số 6, diện tích 93m², loại đất: Ao (Hồ); thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 6, diện tích 908m², loại đất: T; thửa đất số 1083, tờ bản đồ số 6, diện tích 642m², loại đất: Vườn; thửa đất số 1085, tờ bản đồ số 6, diện tích 804m², loại đất: Lúa, đất tọa lạc xã H, huyện T, tỉnh Long An.

Ngày 16/10/2017, ông Dương Văn Q có Đơn đề nghị cấp đối quyền sử dụng các thửa đất như sau: thửa đất số 1080, tờ bản đồ số 6, diện tích 93m², loại đất: Ao (Hồ) thành thửa đất số 1034, tờ bản đồ số 7, diện tích 499,2m², loại đất: LUC; thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 6, diện tích 908m², loại đất: T thành thửa đất số 1890, tờ bản đồ số 7, diện tích 745,3m², loại đất ONT và thửa đất số 1892, tờ bản đồ số 7, diện tích 167,2m², loại đất ONT; thửa đất số 1083, tờ bản đồ số 6, diện tích 642m2, loại đất: vườn thành thửa đất số 1891, tờ bản đồ số 7, diện tích 532,9m, loại đất CLN; thửa đất số 1085, tờ bản đồ số 6, diện tích 804m², loại đất: lúa thành thửa đất số 1041, tờ bản đồ số 7, diện tích 766,7m², loại đất LUC, đất tọa lạc xã H, huyện T, tỉnh Long An (lý do: cấp đổi theo Quyết định số 3103/2010/QĐ-UBND ngày 03/11/2010 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật - dự toán kinh phí đo đạc thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/5000 và hoàn thiện hồ sơ địa chính của 02 xã thuộc huyện T, tỉnh Long An).

Ông Dương Văn Q nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất và được Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CL 060521, CL 060522, CL 060523, CL 060524, CL 060525 (số vào sổ cấp GCN: CS 06602, CS 06601, CS 06600, CS 06603, CS 06599) ngày cấp 20/11/2017, đối với các thửa đất số 1892, diện tích 167, 2m², loại đất ONT; thửa đất số 1041, diện tích 766,7m², loại đất LUC; thửa đất số 1891, diện tích 532,9m², loại đất CLN; thửa đất số 1890, diện tích 745,3m², loại đất ONT; thửa đất số 1034, diện tích 499,2m², loại đất: LUC, cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc xã H, huyện T, tỉnh Long An (đính kèm hồ sơ).

Việc Sở T ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Dương Văn Q là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37, 38, 147, 157, 165, 228, 244, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 31, 32 Luật Tố tụng hành chính; căn cứ các Điều 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; căn cứ các Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn Q đối với phần yêu cầu tháo dỡ hàng rào và tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối phần đất có diện tích cụ thể: phần đất diện tích 52,5m², thuộc một phần thửa số 1040; phần đất diện tích 38,6m², thuộc một phần thửa số 1892 và phần đất diện tích 11,9m², thuộc một phần thửa số 1041, tổng diện tích 103m², cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Long An.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L đối với yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An đã cấp cho ông Dương Văn Q đối với các thửa đất số 1040 và Sở T đã cấp cho ông Dương Văn Q đối với các thửa đất số 1041 và thừa 1892, tất cả cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)” giữa nguyên đơn ông Dương Văn Q với bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L đối với phần đất tranh chấp diện tích tổng cộng 224,8m².

Xác định phần đất tranh chấp có diện tích cụ thể: phần đất diện tích 56,3m² + 20m², thuộc một phần thừa số 1040; phần đất diện tích 56,4m² + 22,1m², thuộc một phần thừa số 1892 và phần đất diện tích 47,1m² + 22,9m2, thuộc một phần thừa số 1041, tổng diện tích 224,8m², cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng của ông Dương Văn Q.

4. Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng diện tích thực tế sử dụng đất, phù hợp với quyết định của bản án.

5. Diện tích các phần đất tranh chấp được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 09-2022 ngày 10/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về các chi phí tố tụng, án phí, các quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 08/9/2023, bị đơn ông Trần Văn T1 bà Dương Thị L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 14/9/2023, Viện trưởng VKSNĐ tỉnh Long An có Quyết định kháng nghị số 141/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn không thay đổi, bổ sung, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đại diện VKSNĐ cấp cao tham gia phiên tòa giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 141/QĐKNPT-VKS-DS của Viện trưởng VKSNĐ tỉnh Long An.

Trong phần tranh luận, các đương sự trình bày như sau:

- Đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà L: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trước đây khi các bên tranh chấp, hóa giải ở xã H B thì nguyên đơn ông Q đã đồng ý ranh đất là hàng trụ đá phía ngoài hàng dừa do ông Qui c. Việc thỏa thuận ranh đất như trên phù hợp ranh đất trước đây là cải mương nước phía ngoài hàng dừa giữa hai phần đất. Việc ông Q khởi kiện chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trước đây nhưng khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại không đo đạc cắm mốc giữa các thửa đất. Trên phần đất tranh chấp đã có hàng dừa của ông T1 bà L trồng trên 20 năm tuổi, cặp ranh đất có mương nước là ranh giới hai phần đất, có xác nhận của nhiều người làm chứng xác định mương nước là ranh của hai phần đất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Q.

- Đại diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Q đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997 đối với các thửa đất số 1040, 1041 và thửa đất số 1892, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long. Đến năm 2017, khi cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký ranh đo đạc giữa các thửa đất. Việc đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng ranh đất là mương nước phía ngoài hàng dừa là không đúng vì mương nước trên là của ông Q. Trước đây, ông Q có đào mương nước để thoát nước từ các thửa đất phía trong ra ngoài kênh thủy lợi cặp đường G. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật: Xét thấy, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Về yêu cầu kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An: Xét thấy kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với kháng cáo của ông T1 bà L là có căn cứ một phần nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ một phần nên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T1 bà Dương Thị L, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An làm trong thời hạn luật định, ông T1 bà L đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn ông Dương Văn Q khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T1 và bà Dương Thị L trả lại phần đất tranh chấp diện tích đo đạc thực tế là 327,8m2, thuộc một phần các thửa đất số 1040, 1041 và 1892, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An; bị đơn ông Trần Văn T1 và bà Dương Thị L có yêu cầu Tòa án xem xét hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Dương Văn Q gồm một phần các thửa đất số 1040, 1041 và 1892, tờ bản đồ số 7, diện tích đo đạc thực tế là 327,8 m2, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An.

Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất), hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” và thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 26, 34, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 31, 32 Luật Tố tụng hành chính.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L:

Phần đất các bên đang tranh chấp bao gồm phần đất diện tích 56,3m² + 20m², thuộc một phần thừa số 1040; phần đất diện tích 56,4m² + 22,1m², thuộc một phần thừa số 1892 và phần đất diện tích 47,1m² + 22,9m², thuộc một phần thừa số 1041, tổng diện tích 224,8m², cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Long An. Các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất là của ông Ngô Văn T2 và bà Dương Thị K. Phía nguyên đơn ông Dương Văn Q cho rằng phần đất trên được ông T2, bà K đưa vào Tập đoàn A. Sau khi Tập đoàn A ngưng hoạt động thì giao lại cho ông. Năm 1997, ông tiến hành kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2020, khi san lấp mặt bằng thì ông phát hiện phần đất trên bị ông T1, bà L lấn chiếm sử dụng. Ngược lại, bị đơn ông T1, bà L trình bày phần đất trên thuộc một phần các thừa đất số 1034, 1035, 1890 và 1891, tờ bản đồ số 7, có nguồn gốc của ông T2, bà K. Năm 1987, ông T2, bà K tặng cho vợ chồng ông bà và vợ chồng ông bà sử dụng từ năm 1987 cho đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 06/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An thể hiện trên phần đất tranh chấp có một số cây dừa và đu đủ do phía bị đơn ông T1, bà L trồng. Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2004 cho đến năm 2018, khi tiến hành xây dựng hàng rào kiên cố, ông T1, bà L không rào hết luôn phần đất tranh chấp diện tích 224,8m² nêu trên mà bỏ phần đất trên ra phía ngoài hàng rào. Do đó, có căn cứ xác định bị đơn ông T1, bà L đã thừa nhận ranh đất của bị đơn là đến hết mí hàng rào xây kiên cố nêu trên. Ông T1 bà L cho rằng ranh đất của các bên là mương nước phân ranh nằm cách tường rào 3m (bờ dừa) nhưng không có tải liệu, chứng cứ để chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.

Mặt khác, theo Mảnh trích đo địa chính số 09-2022 ngày 10/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T thể hiện phần đất tranh chấp thuộc một phần các thừa đất số 1040, 1892 và thừa 1041, hiện do ông Dương Văn Q đúng tên quyền sử dụng. Việc ông T1 bà L trình bày phần đất tranh chấp thuộc một phần các thừa đất số 1034, 1035, 1890 và 1891, tờ bản đồ số 7 là không có căn cứ chấp nhận.

Tại Công văn số 1744/UBND-NC ngày 19/7/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T và Công văn số 6180/STNMT-VPĐKĐD ngày 15/8/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L đã xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Dương Văn Q đối với các thừa đất số 1040, 1041, và thừa đất số 1892 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hồ sơ cấp giấy có đo đạc thực tế.

Do đó, có đủ căn cứ xác định phần đất tranh chấp diện tích 224,8m² là thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn ông Dương Văn Q.

[3.2] Xét Quyết định kháng nghị số 141/QĐKNPT-VKS-DS ngày 14/9/2023 của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An:

Tại Quyết định kháng nghị số 141/QĐKNPT-VKS-DS ngày 14/9/2023 của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An có nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hồ sơ pháp lý khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Dương Văn Q. Vì khi cấp giấy lần đầu nguyên đơn cũng đứng tên các thửa đất 1034, 1035, 1890, 1891 của bị đơn sử dụng từ năm 1987 (hai bên giáp ranh với nhau). Việc UBND huyện T cấp giấy cho nguyên đơn năm 1997 là nhầm lẫn, hiện nay bị đơn đã khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy giấy các thửa đất 1034, 1035, 1890, 1891 nguyên đơn đang đứng giấy để trả lại bị đơn. Trên phần đất tranh chấp đã có các cây lâu năm do phía bị đơn trồng, phần ranh đã cắm cọc đá khi hòa giải ở xã H B phía nguyên đơn cũng tự nguyện cắm để xác định ranh. Từ các căn cứ trên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Q, xác định ranh giới giữa hai bên là ranh tự cắm theo Bản trích đo địa chính số 09/2022 ngày 10/01/2022, buộc ông T1 bà L trả lại phần đất diện tích 65m².

Hội đồng xét xử xét thấy, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 63/2023/HC-ST ngày 09/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xét xử đối với yêu cầu của người khởi kiện ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L yêu cầu Tòa án hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho ông Dương Văn Q đối với các thửa đất 1034, 1035, 1890, 1891, cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An. Còn trong vụ án này, các bên đương sự tranh chấp phần đất bao gồm diện tích 56,3m² + 20m², thuộc một phần thửa số 1040; phần đất diện tích 56,4m² + 22,1m², thuộc một phần thửa số 1892 và phần đất diện tích 47,1m² + 22,9m², thuộc một phần thửa số 1041, tổng diện tích 224,8m², cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Long An. Đây là 02 vụ án có quan hệ tranh chấp, đối tượng tranh chấp khác nhau, nên Quyết định kháng nghị số 141/QĐKNPT-VKS-DS của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An cho rằng không thể căn cứ vào hồ sơ cấp giấy cho ông Dương Văn Q để xem xét giải quyết vụ án, là không có căn cứ chấp nhận.

Về việc bị đơn ông T1 bà L có trồng một số cây lâu năm trên phần đất tranh chấp thì đây không phải là căn cứ để xác định ông T1 bà L có quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp. Bởi lẽ nguyên đơn trình bày có đồng ý cho bị đơn trồng cây trên đất. Quá trình sử dụng đất, bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L không tiến hành thủ tục kê khai, đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại Bản tự khai ngày 02/11/2021 (BL 132), ông T1 bà L thừa nhận năm 1993 có đưa giấy chứng minh nhân dân cho ông Q để đăng ký giúp, nhưng sau đó phát hiện ông Q lại đăng ký luôn phần đất của ông bà nên yêu cầu Tòa án hủy các giấy chứng nhận đã cấp cho ông Q đối với các thửa đất tại các thửa đất số 1035, 1034, 1080, 1891. Điều này chứng tỏ ông T1 bà L đã biết ông Dương Văn Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 1040, 1041 và 1892 và không có ý kiến khiếu nại, phần đối.

Căn cứ Mảnh trích đo địa chính số 09-2022 ngày 10/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T thể hiện phần đất tranh chấp thuộc một phần các thửa đất số 1040, 1892 và thửa 1041, hiện do ông Dương Văn Q đứng tên quyền sử dụng. Vì vậy ông Q khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Dương Văn Q là có căn cứ để chấp nhận.

[4] Từ các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn Q, xác định diện tích đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của ông Q là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới, do đó kháng cáo của ông T1, bà L là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 141/QĐKNPT-VKS-DS ngày 14/9/2023 của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L.

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số 141/QĐKNPT-VKS-DS ngày 14/9/2023 của Viện trưởng VKSND tỉnh Long An.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37, 38, 147, 157, 165, 228, 244, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 31, 32 Luật Tố tụng hành chính; căn cứ các Điều 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; căn cứ các Điều 12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Văn Q đối với phần yêu cầu tháo dỡ hàng rào và tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối phần đất có diện tích cụ thể: phần đất diện tích 52,5m2, thuộc một phần thừa số 1040; phần đất diện tích 38,6m2, thuộc một phần thừa số 1892 và phần đất diện tích 11,9m2, thuộc một phần thừa số 1041, tổng diện tích 103m2, cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Long An.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L đối với yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An đã cấp cho ông Dương Văn Q đối với các thửa đất số 1040 và Sở T đã cấp cho ông Dương Văn Q đối với các thửa đất số 1041 và thửa 1892, tất cả cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã H, huyện T, tỉnh Long An.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)” giữa nguyên đơn ông Dương Văn Q với bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L đối với phần đất tranh chấp diện tích tổng cộng 224,8m².

Xác định phần đất tranh chấp có diện tích cụ thể: phần đất diện tích 56,3m² + 20m², thuộc một phần thửa số 1040; phần đất diện tích 56,4m² + 22,1m², thuộc một phần thửa số 1892 và phần đất diện tích 47,1m² + 22,9m2, thuộc một phần thửa số 1041, tổng diện tích 224,8m², cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại H, huyện T, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng của ông Dương Văn Q.

4. Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng diện tích thực tế sử dụng đất, phù hợp với quyết định của bản án.

5. Diện tích các phần đất tranh chấp được thể hiện tại Mãnh trích do địa chính số 09-2022 ngày 10/01/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T.

6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Văn T1, bà Dương Thị L mỗi người phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu số 45 ngày 08/9/2023, số 46 ngày 08/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An. Ông T1, bà L đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 687/2024/DS-PT

Số hiệu:687/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;