Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 415/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 415/2024/DS-PT NGÀY 28/08/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, ĐÒI LẠI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 346/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2023/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 374/2024/QĐPT-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị X (Sà) (đã chết ngày 01-7-2022);

2. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

2.1. Ông Phạm Văn M năm 1961; (vắng mặt) 2.2. Ông Phạm Văn C năm 1967; (vắng mặt) 2.3. Bà Phạm Thị T năm 1976; (vắng mặt) 2.4. Ông Phạm Văn T1 năm 1978; (có mặt) Cùng cư trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh 2.5. Bà Phạm Thị G năm 1969; cư trú tại: ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt) 2.6. Bà Phạm Thị P năm 1974; cư trú tại: khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt) 2.7. Bà Phạm Thị C1 năm 1975; cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt) - Người đại diện theo ủy quyền của ông Mông C2 T, bà G, bà P, bà C1: Ông Phạm Văn T1 năm 1978; cư trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

3. Đồng bị đơn:

3.1. Bà Đoàn Thị N năm 1972; hộ khẩu thường trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện nay: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt) 3.2. Ông Đoàn Văn T2 năm 1972; (có mặt) 3.3. Bà Đoàn Thị N1 năm 1976; (có mặt) 3.4. Ông Đoàn Văn H năm 1980; (có mặt) Cùng cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh 3.5. Ông Mai Văn T3 năm 1959; (có mặt) 3.6. Ông Mai Văn H1 năm 1961; (có mặt) 3.7. Ông Mai H2 T4 sinh năm 1967; (có mặt) Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đoàn Thị N2: Ông Dương Văn H3 năm 1968; cư trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt) 4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

4.1. Bà Hồ Thị B năm 1940, (vắng mặt) 4.2. Bà Đoàn Thị B1 năm 1969, (vắng mặt) 4.3. Ông Đoàn Tấn S năm 1976. (có mặt) Cùng cư trú tại: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh 4.4. Ông Đoàn Văn P1 năm 1964; cư trú tại: ấp C, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị vắng mặt) 4.5. Bà Huỳnh Thị H4 năm 1956; cư trú tại: ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, (có mặt) 4.6. Ông Huỳnh Văn K năm 1960; (Tòa án không triệu tập) 4.7. Ông Huỳnh Văn Đ năm 1964; (Tòa án không triệu tập) 4.8. Ông Huỳnh Văn N3 năm 1969; (Tòa án không triệu tập) Cùng cư trú tại: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

4.9. Bà Huỳnh Thị T4 năm 1966; cư trú tại: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Tòa án không triệu tập) 4.10. Bà Nguyễn Thị L năm 1968; địa chỉ: ấp P, xã P, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập) 4.11. Chị Mai Thị T5 năm 1996; địa chỉ: ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập) 4.12. Chị Mai Kim Y năm 1993; địa chỉ: ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (Tòa án không triệu tập) 4.13. Bà Đoàn Thị P2 năm 1962; địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; (Tòa án không triệu tập) 4.14. Ông Trương Văn T7 sinh năm 1965; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Thành Phố Hồ Chí Minh. (Tòa án không triệu tập) - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P5, ông Trần T6, T8, Luật sư Văn phòng luật sư Trần M1 T9 thuộc đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt)

4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Đoàn Thị N2

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2021 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Mông C2 T, bà G, bà P, bà C1 - ông Phạm Văn T1 trình bày:

Ông là con của bà Đoàn Thị X (Sà) (đã chết năm 2022) và ông Phạm Văn H5 (đã chết năm 2018). Cha mẹ ông có tất cả 07 người con gồm: Phạm Văn M, Phạm Văn C, Phạm Thị T, Phạm Văn T1, Phạm Thị G, Phạm Thị P, Phạm Thị C1. Ngoài ra cha mẹ ông không có con riêng hay con nuôi nào khác.

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông bà ngoại của ông là cụ Võ Thị C3, cụ Đoàn Văn D chết để lại. Ông bà ngoại của ông có tất cả 04 người con gồm:

1. Đoàn Văn D1 (đã chết năm 2020). Ông D1 có người vợ đầu tên Mai Thị A (đã chết năm 2015); Ông D1 và bà A có tất cả 06 người con gồm Mai Văn T8 (đã chết, không vợ con), ông Mai Văn T8, Mai Văn H1, Mai Hùng T, Ngọc L (đã chết năm 1996). Ông L1 có vợ tên Nguyễn Thị L1 L1 và bà L2 có 02 người con gồm Mai Thị T6 và Mai Kim Y. Vợ thứ hai của ông D21 (đã chết năm 2014). Ông D1 và bà H5 có tất cả 04 người con gồm bà Đoàn Thị N4, Đoàn Văn T2, Đoàn Thị N1 và Đoàn Văn H.

2. Đoàn Tấn V1 (đã chết 2012) có vợ tên Hồ Thị B2 và bà B3 có tất cả 03 người con gồm Đoàn Văn V2 P1, Đoàn Thị B1 và Đoàn Tấn S1 3. Đoàn Thị S2 (đã chết) có chồng tên Huỳnh Văn S2, bà S2 và ông S2 có tất cả 05 người con gồm Huỳnh Thị H3, Huỳnh Văn K, Ông Huỳnh Văn Đ, Ông Huỳnh Văn N2, Bà Huỳnh Thị T5.

4. Đoàn Thị X (S là mẹ của ông.

Diện tích phần đất của ông bà ngoại để lại khoảng 50 cao (5.000m²). Khi bà ngoại còn sống chưa chia cho ai, do ông D1 quản lý sử dụng. Sau khi ông bà ngoại ông chết thì các cậu và mẹ ông thỏa thuận chia đất này vào năm 1991. Tuy nhiên do ban đầu chia theo đám thì những người được chia đất phía trong không có đường đi vào đất canh tác nên vào năm 2003, các cậu và mẹ ông, con bà S1 là bà Huỳnh Thị H6 thỏa thuận chia lại đất theo đó, mỗi người con gái được chia 10m ngang giáp đường, chia ông V23m ngang giáp đường, phần còn lại chia cho ông D2. Việc chia đất có lập biên bản phân chia, có đại diện địa phương chứng kiến gồm ông 2 Khánh (Bí thư chi bộ), ông 5 R (Trưởng ấp), ông 4 B2 (Hội nông dân), ông H7 (thư ký). Bản gốc biên bản phân chia ngày 22/6/2003 hiện nay không còn do thời gian đã lâu và bị thất lạc.

Sau khi chia đất thì đất của ai người đó quản lý sử dụng. Gia đình có nhờ cán bộ địa chính xuống đo ranh cắm trụ. Nhưng do ông V3 nhận 20m ngang, cho lại mẹ ông 02m, cho lại bà H3 01m nên khi đo ranh cắm theo hiện trạng này. Sau khi đo đạc xong do diện tích từng người được chia chỉ khoảng 12 cao nên không làm thủ tục từng người mà để ông D1 một mình kê khai đăng ký. Sau đó, do bà N (con của ông D1) giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không làm thủ tục chia đất được. Năm 2012, bà Đoàn Thị X1 kiện ông D1 ra Tòa nhưng do không có tranh chấp nên Tòa đình chỉ không giải quyết vụ án và hướng dẫn đương sự đi đăng ký quyền sử dụng đất nhưng không được. Vì vậy, bà X2 tiếp tục kiện ông D1 vào năm 2017, nhưng Tòa vẫn trả đơn khởi kiện không giải quyết và hướng dẫn đăng ký quyền sử dụng đất nhưng vẫn không thể thực hiện được. Năm 2020, ông D1 chết, các con của ông D3 đồng ý làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho mẹ ông là bà X3 tiếp tục khởi kiện ra Tòa. Quá trình sử dụng đất, ông sử dụng đất này từ năm 1991 đến năm 2020 (khi ông D1 chết) thì bà N5 lại phần đất tranh chấp. Vào tháng 3 năm 2019, ông có tiến hành đổ 02 xe đất trên phần đất tranh chấp vì tính cất nhà ở. Thời điểm ông đổ đất thì ông D1 còn sống. Khi tiến hành đổ đất thì phía ông D1 không có ngăn cản gì cả. Trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không yêu cầu trả lại số tiền đã đổ đất.

Ông đại diện cho các anh em của ông yêu cầu các con của ông Đoàn Văn D4 trả lại phần đất diện tích 935,3m² trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Ông đồng ý thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bị đơn theo kết quả Hội đồng định giá đã định.

Bị đơn bà Đoàn Thị N6 (đại diện theo ủy quyền) trình bày: Tài liệu chứng cứ mà phía nguyên đơn khởi kiện là Văn bản thỏa thuận phân chia đất ngày 22/6/2003 nhưng chỉ nộp bản phô tô. Phía bị đơn có yêu cầu giám định chữ ký, tuổi mực của văn bản chia đất ngày 22/6/2003 nhưng phía nguyên đơn không cung cấp bản gốc. Vì vậy, phía bị đơn không thừa nhận chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Mặt khác, phần đất tranh chấp ông Đoàn Văn D5 quản lý sử dụng trong thời gian dài, không ai tranh chấp. Ông D1 cũng đã kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật. Điều đó thể hiện việc Nhà nước đã xây nhà tình nghĩa cho ông Đoàn Văn D6 năm 2001. Phía nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Đoàn Văn D7, cụ Võ Thị C4 không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này. Do đó, bà N7 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Hiện bà Huỳnh Thị H8 giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 ngày 08/5/2009 do ông Đoàn Văn D8 đứng tên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bà H4 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N (con ông D1).

Bị đơn - ông Đoàn Văn H9 trình bày: Về mối quan hệ nhân thân và các con của cụ Võ Thị C3, cụ Đoàn Văn D9 thừa nhận lời trình bày của ông T1 là đúng. Nguồn gốc phần đất tranh chấp do cha ông khai phá và quản lý sử dụng từ trước cho đến khi cha ông chết năm 2020. Vào năm nào ông không biết cha ông có đưa đất ông T9 (con bà X4), bà H3, ông V sử dụng 01 đến 02 năm thì lấy lại. Ông không sống cùng nhà với cha ông nên ông không biết việc chú, cô có về chia đất hay không. Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do nhờ người khác làm và mặt khác cha ông không rành chữ nghĩa nên ông nghĩ là cha ông có nhầm lẫn trong việc kê khai nguồn gốc đất. Phần đất tranh chấp, ông thừa nhận cha ông có cho con của bà X5, ông V canh tác, sử dụng nhưng cụ thể vào thời gian nào ông không nhớ. Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ông yêu cầu những người này phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bị đơn.

Bị đơn bà Đoàn Thị N1, ông Đoàn V4 T2 trình bày: Từ khi sinh ra đến nay trên phần đất tranh chấp chỉ một mình ông D1 ở và quản lý sử dụng phần đất này, không có tài sản nào của bà nội trên đất. Nay ông/bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn ông Mai H2 T4 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Đoàn Văn H10 về nguồn gốc đất do cha ông khai phá. Phần đất tranh chấp hiện nay do cha ông đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc quyền sử dụng đất của cha ông. Trong trường hợp, ông T1, bà H3, ông S cho rằng đây là đất của ông bà vậy có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gì không. Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn ông Mai V T3, ông Mai Văn H1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông H, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Huỳnh Thị H12 trình bày: Bà thống nhất về lời khai của ông T1 về quan hệ nhân thân và nguồn gốc đất. Khi tiến hành làm thủ tục đăng ký đất cho từng người theo biên bản phân chia ngày 22/6/2003 thì do có phần đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà có đăng ký để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng để một mình ông D1 đứng tên giấy chứng nhận. Do đó, khi làm thủ tục đăng ký kê khai những phần đất này, bà giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D10. Bà yêu cầu các con của ông Đoàn Văn D4 trả lại phần đất diện tích 331,3m² trong thửa 330 và diện tích 285,4m² trong thửa 345, 196,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Bà đồng ý thanh toán giá trị tài sản cho bị đơn theo kết quả Hội đồng định giá đã định.

Hiện nay bà đang giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D1 nhưng do có liên quan đến phần đất tranh chấp nên bà không đồng ý trả lại cho phía bị đơn. Trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà thì bà đồng ý trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phía bị đơn.

Ông Huỳnh Văn Kông, ông Huỳnh Văn Đ1, ông H21 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Thị H13 quá trình giải quyết vụ án ông/bà có đơn khởi kiện đối với bị đơn. Hiện nay, ông/bà có đơn xin rút đơn khởi kiện. Ông/bà đồng ý giao phần đất tranh chấp này cho bà H3 được quyền sử dụng đất.

Ông Đoàn Tấn S3 trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của ông T1 và bà H3 về quan hệ nhân thân và nguồn gốc đất. Ông có sử dụng phần đất tranh chấp trong vòng 01 năm, do nhà xa nên ông giao lại cho bà N sử dụng. Theo biên bản phân chia ngày 22/6/2003, cha ông được chia 23m ngang nhưng sau đó, cha ông đồng ý cho bà X 02m ngang, cho bà H4 01m. Nay ông đồng ý với ý kiến của cha ông. Ông yêu cầu các con của ông Đoàn Văn D4 trả lại phần đất diện tích 1.241,6m² trong thửa 331 và diện tích 402,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Bà Hồ Thị B4, bà Đoàn Thị B1, ông Đoàn Văn P1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Đoàn Tấn S4 và có cùng yêu cầu với ông S.

Bà Nguyễn Thị L3, chị Mai Thị T6, chị Mai Kim Y1 trình bày: Bà, chị là vợ và con của ông Mai Ngọc L4 (con của ông D11. Phần đất tranh chấp là của ông Đoàn Văn D1 (cha chồng của bà L5, ông nội của chị Y2, T6) nên không đồng ý với yêu cầu với nguyên đơn.

Bà Đoàn Thị P3, ông Trương Văn T7 trình bày: Ông/bà là con của bà Lê Thị H14, ông D1 là cha dượng của ông/bà. Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông D1. Đối với yêu cầu khởi kiện của các đương sự trong vụ án thì ông/bà không có ý kiến gì cả.

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: 46/2023/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 228, điều 157, 158, 165, 166, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai; Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Đoàn Thị X (Sà) (đã chết) gồm ông Phạm Văn M2, Phạm Văn C5, Phạm Thị T10, Phạm Văn T1, bà Phạm Thị G1, Phạm Thị P, bà Phạm Thị C6 “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 1.1. Ông Phạm Văn Mông, Phạm Văn C7, Phạm Thị T10, P6 được quyền sử dụng phần đất diện tích 935,3m² trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có từ cận như sau:

- Hướng Đông giáp đất thửa 331 (phần đất bà B được chia) dài 20,1m + 60,96m; Hướng Tây giáp thửa 330, 345, 356 (phần đất bà H4) dài 18,23m + 32,43m; Hướng Nam giáp đường nhựa dài 12m; Hướng Bắc giáp đất ông L dài 3,75m + 9,66m.

1.2 Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 935,3m² trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho Phạm Văn M, Phạm Văn C, Phạm Thị T, Phạm Văn T1 được quyền sử dụng.

1.3. Ông Phạm Văn Mông, Phạm Văn C7, Phạm Thị T10, P7 có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản cho bị đơn số tiền 5.400.000 đồng.

1.4. Ông Phạm Văn M, Phạm Văn C7, Phạm Thị T10, P6 được quyền sở hữu tài sản trên đất là 21 cây trầm vàng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H15 “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 2.1. Bà Huỳnh Thị H16 được quyền sử dụng phần đất diện tích 331,3m² trong thửa 330 và diện tích 285,4m² trong thửa 345, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có từ cận như sau:

- Hướng Đông giáp đất bà X chia dài 18,23m + 32,43m; Hướng Tây giáp thửa 330, 345, 356 (phần đất ông D1) dài 17,67m + 29,46m + 26,27m; Hướng Nam giáp đường nhựa dài 11m; Hướng Bắc giáp đất ông L dài 1,78m + 9,63m + 0,48m.

2.2. Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 331,3m² trong thửa 330 và 285,4m² trong thửa 345, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho bà Huỳnh Thị H4 được quyền sử dụng.

2.3. Bà Huỳnh Thị H17 có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 số tiền 14.170.000 (Mười bốn triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng giá trị tài sản.

2.4. Bà Huỳnh Thị H16 được quyền sở hữu cây trồng trên đất gồm 08 cây cao su, 04 cây dừa, 01 cây điều, 22 cây trầm vàng.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Bông, ông Đoàn V5 P1, bà Đoàn Thị B1, ông Đoàn Tấn S1 “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4.

3.1. Bà Hồ Thị Bông, ông Đoàn V5 P1, bà Đoàn Thị B1, ông Đoàn Tấn S5 được quyền sử dụng phần đất diện tích 1.241,6m² trong thửa 331 và diện tích 402,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có từ cận như sau:

- Hướng Đông giáp đất thửa 314, 332 dài 19,91m + 57,27m + 5,81m + 1,39m; Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 331, 356 dài dài 20,1m + 60,96m; Hướng Nam giáp đường nhựa dài 20m; Hướng Bắc giáp thửa 313 dài 14,31m.

3.2. Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 1.241,6m² trong thửa 331 và diện tích 402,1m² trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho bà Hồ Thị B5, ông Đoàn Văn P1, bà Đoàn Thị B1, ông Đoàn Tấn S.

4. Kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 ngày 08/5/2009 và sổ vào sổ 04962QSD/439/2001/QĐUB ngày 20/6/2001 do ông Đoàn Văn D8 đứng tên theo như quyết định của bản án đã tuyên.

5. Chấp nhận yêu cầu phân tố của bà Đoàn Thị N2 “Tranh chấp đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bà Huỳnh Thị H15.

Buộc bà Huỳnh Thị H17 có nghĩa vụ trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 ngày 08/5/2009 mang tên Đoàn Văn D1 (bản gốc).

6. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn K1, Huỳnh Văn Đ1, H20 Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

* Nội dung kháng cáo: Theo đơn kháng cáo để ngày 15-8-2023 của bà Đoàn Thị N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa ngày 18-01-2023, 23-01-2024 và 28-8-2024 bị đơn bà Đoàn Thị N10 (người đại diện theo ủy quyền) xác định giữ nguyên kháng cáo không đồng ý toàn bộ bản án sơ thẩm và trình bày căn cứ bảo vệ kháng cáo của bị đơn như sau:

Tòa án cấp sơ thẩm không đưa 7 người anh em ruột của ông D1, bà X, không đưa ông K2, ông R, ông B2 làm chứng tham gia tố tụng là vi phạm Điều 77 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bản án sơ thẩm đã tuyên không đảm bảo tính có căn cứ vì sử dụng tài liệu là bản phô tô không đọc được và không có bản gốc để đánh giá chứng cứ, bị đơn yêu cầu giám định không thực hiện được vi phạm Điều 97 của bộ luật Tố tụng dân sự. Không đánh giá công sức tôn tạo đất. Không thu thập sổ mục kê, sơ đồ địa chính, hồ sơ cấp giấy đất cho ông D1 lần đầu để làm rõ chứng cứ chứng minh. Ông D1 trình bày có cho mỗi người sử dụng đất khoảng 1-2 năm (BL145) nên không có việc các đương sự sử dụng đất từ năm 1991 đến năm 2020. Nguồn gốc đất do cha mẹ ông D1 để lại là không đúng, ông D2 làm nhà canh tác trên đất khi cha là ông D13 còn sống không có tranh chấp. Giấy chia đất ngày 22/6/2003 không có căn cứ pháp lý. Từ đó, đề nghị Hủy một phần bản án sơ thẩm. Chấp nhận phân tố của bị đơn yêu cầu bà H3 trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đoàn Văn D14 cho bà N Các bị đơn còn lại là ông Đ2 T4 trình bày cùng nội dung: Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, không giao đất cho ai hết.

Phía nguyên đơn ông T1, người liên quan bà H3 và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trình bày tranh luận như sau: Không đồng ý toàn bộ kháng cáo của bà N11 tại bà H3 đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đoàn Văn D8 đứng tên, bà chỉ thực hiện theo kết quả giải quyết của cơ quan pháp luật.

Đối với Biên bản ngày 22/6/2003 về việc phân chia đất đã có lời khai của các thành viên tham gia trong biên bản thể hiện, đã được Tòa án sơ thẩm làm việc lấy lời khai và nguồn gốc đất là do cha mẹ ông D1 khai phá để lại. Theo hồ sơ cấp giấy đất cho ông D1 thể hiện nguồn gốc đất là thừa kế. Bị đơn không có cung cấp được chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Xét thấy năm 2003 các đương sự có thỏa thuận chia đất, biên bản có chữ ký của ông D1 và các anh em, phù hợp với lời khai của những người công tác tại chính quyền địa phương thời điểm đó, các bên đã cắm trụ, xác định ranh, ông V6 cho bà H3 01m ngang nên bà H3 được 11m ngang; phần bà X (Sà) 10m ngang và được ông V6 2m ngang nên tổng cộng là 12m ngang. Có căn cứ buộc bị đơn trả lại đất.

Đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đoàn Thị N12, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ ý kiến của đương sự; ý kiến của luật sư; Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 15-8-2023 bị đơn bà Đoàn Thị N13 có đơn kháng cáo, qua xem xét đơn kháng cáo phù hợp với trình tự thủ tục quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Phạm Văn Mông, Phạm Văn C7, Phạm Thị T, bà Phạm Thị G2, Phạm Thị P4, Phạm Thị C1 vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị B, bà Đoàn Thị B6, Đ P1 vắng mặt - có đơn xin vắng mặt; Các đương sự còn lại Tòa án không triệu tập. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về quan hệ pháp luật giải quyết: Nguyên đơn bà X (Sà) khởi kiện yêu cầu bà N10 và 6 anh chị em của bà N (là các con của ông D1) trả diện tích 935 m²; Người liên quan bà H3, ông S có yêu cầu độc lập yêu cầu bà N10 và 6 anh chị em trả cho bà H3 diện tích 616,7 m² và ông S1 1.643,7 m². Các diện tích đất trên ở L, T, Tây Ninh. Nguồn gốc đất của cha mẹ, ông bà chết để lại. Do ông Đoàn Văn D15 (cha các bị đơn) kê khai đăng ký. Phía bà N10 và các anh em không đồng ý. Các bên đương sự có tranh chấp, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Điều 26; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của bà Đoàn Thị N14, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Về nguồn gốc đất: Cụ ông Đoàn Văn D16, bà Võ Thị C8 đã chết, chung sống tạo lập được các phần đất liền kề: 1.280 m² + 1.051,9 m² + 2.873,2 m². Đất tọa lạc tại ấp L, xã L, T. Cha mẹ chết không để lại di chúc. Hai cụ có 4 con chung là ông Đoàn Văn D1 (chết năm 2020), ông Đoàn Tấn V1 (chết năm 2012), bà Đoàn Thị S2 (chết 1978) và bà Đoàn Thị X (Sà) (chết năm 2022). Ông Đoàn Văn D1 kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nội dung kê khai về nguồn gốc đất là thừa kế, ngoài ra ông D1 không có tài liệu, chứng cứ thể hiện các thửa đất trên là của riêng ông. Có căn cứ xác định nguồn gốc đất là của cụ D7, cụ C9 chết để lại.

[3.2] Năm 2013 bà X (Sà) đã khởi kiện đối với ông D1, quá trình thụ lý giải quyết. Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng (nay là thị xã T) đã ra Quyết định số 58/2013/QĐST-DS ngày 24-9-2013 đình chỉ giải quyết vụ án. Lý do: “Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Đoàn Văn D7, cụ Võ Thị C10 (cha mẹ của bà Đoàn Thị S6, ông Đoàn V5 D1). Ngày 22/6/2003 anh em họp lại lập văn bản phân chia đất của cha, mẹ để lại, trong đó bà S3 được chia 936,4 m², bà S3 đã quản lý và sử dụng cho đến nay. Nay bà S3 khởi kiện ông D1 yêu cầu làm thủ tục sang tên, trong quá trình lấy lời khai ông D1 không tranh chấp phần đất nêu trên với bà S3. Căn cứ Điều 11 Nghị Định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, bà S3 làm hồ sơ nộp cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có hiệu lực thi hành, bà X (S3) thực hiện thủ tục làm giấy đất thì ông D1 không đồng ý và tiếp tục có tranh chấp, từ đó, bà X (S3) tiếp tục khởi kiện lần 2 là vụ án này.

[3.3] Quá trình thu thập chứng cứ thể hiện: Theo biên bản lập ngày 22/6/2003 của chính quyền đoàn thể ấp L2 đến nhà ông D1 dự cuộc hòa giải của gia đình nhà ông Đoàn Văn D18 phần gồm: ông Đinh Văn K3 (5 Khánh) - Bí thư ấp, ông Đinh Văn R1 - Trưởng ấp, ông Đinh Văn B7 (4 Bư) là hội nông dân, ông Tố Văn H18 - Thư ký. Văn bản trên có nội dung: “4 anh em của ông Đoàn Văn D19 thỏa thuận, đi đến thống nhất như sau: Chia lần cuối cùng là 4 anh em tính từ đường xe chia cho con gái mỗi người 10 m, còn lại chia cho 2 người con trai”. Biên bản trên là tài liệu bản phô tô, tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh đối với 4 người đại diện chính quyền địa phương tại thời điểm đó, tất cả đều xác định có việc thỏa thuận giải quyết phân chia đất gia đình ông D1, ông V1 như trên. Việc thu thập chứng cứ này đảm bảo Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, có căn cứ xác định ngày 22/6/2003 anh em ông D1 đã phân chia đất và tại BL 317 ông Đoàn Văn D1 tự khai vào ngày 17-9-2013 như sau: “bà X quản lý sử dụng đất này từ khi anh em làm giấy thỏa thuận phân chia quyền sử dụng đất”... lời khai của ông D1 phù hợp với nội dung Biên bản thỏa thuận ngày 22/6/2003. Do đó, nội dung văn bản ngày 22/6/2003 có giá trị pháp lý.

[3.4] Làm rõ về các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông D1 được cấp vào ngày 20-6-2001 và 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp vào ngày 08-5-2009, thấy rằng: Tại Văn bản số 98/VPĐKĐĐ-CNTB ngày 19-02-2024 và số 1314/CV-CNTB ngày 19-7-2024 của Văn phòng ĐKĐĐ - Chi nhánh T11 thể hiện: “Qua đối chiếu bản đồ địa chính, theo (BD 299) với bản đồ địa chính chính quy (BD 2005) thể hiện thửa đất số 2771, 2772, 2773 tờ bản đồ số 09 (BD299) tương ứng với (BD 2005) là thửa đất 330, tờ bản đồ số 58, diện tích 974,8 m² và một phần thửa 345 (diện tích 403/1.051,9 m²), tờ bản đồ số 58”. Do đó, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông Đoàn Văn D8 đứng tên vào ngày 20-6-2001 (gồm có 3 thửa 2771, 2772, 2773) và 02 Giấy chứng nhận cấp vào ngày 08-5-2009 không có sự trùng lặp với thửa đất của người khác và cần điều chỉnh số liệu cho phù hợp với bản đồ địa chính. Việc cấp sơ thẩm giao đất cho các đương sự theo hướng nam đều giáp đường đất là có căn cứ. Bà N kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm không cung cấp được tình tiết nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo.

Từ nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà N.

Đề xuất của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ pháp luật.

[4] Về án phí:

[4.1] Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Văn T11 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Huỳnh Thị H15.

Hoàn trả cho ông Huỳnh Văn Đ1, Huỳnh Văn N2, bà Huỳnh Thị T5 số tiền tạm ứng án phí 1.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026694 ngày 01/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Hoàn trả cho ông Đoàn Tấn S7, Đoàn Văn P1, bà Đoàn Thị B1 số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026905 ngày 17/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 phải chịu 900.000 (chín trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Đoàn Thị N15 tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027288 ngày 12/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

[4.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà N không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Ghi nhận bà N đã nộp xong theo Biên lai thu số: 0027456 ngày 16-8-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

[5] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 155; Điều 156; Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 có nghĩa vụ trả lại ông Phạm Văn T12 tiền 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng.

Bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 có nghĩa vụ trả lại bà Huỳnh Thị H19 (Hai triệu) đồng.

Bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 trả lại ông Đoàn Tấn S8 tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đoàn Thị N2.

Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số: 46/2023/DS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

1/. Căn cứ Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 203 Luật đất đai; Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Đoàn Thị X (Sà) (đã chết) gồm ông Phạm Văn M2, Phạm Văn C7, Phạm Thị T10, Phạm Văn T1, bà Phạm Thị G2, Phạm Thị P, bà Phạm Thị C6 “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8 Đ2.

1.1. Ông Phạm Văn M, Phạm Văn C7, Phạm Thị T10, P6 quyền sử dụng phần đất diện tích 935,3m² đất lúa trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận như sau:

- Hướng Đông giáp đất thửa 331 (phần đất bà B được chia) dài 20,1m + 60,96m;

- Hướng Tây giáp thửa 330, 345, 356 (phần đất bà H4) dài 18,23m + 32,43m;

- Hướng Nam giáp đường nhựa dài 12m;

- Hướng Bắc giáp đất ông L dài 3,75m + 9,66m.

1.2 Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 935,3m² đất lúa trong thửa 330, 331, 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho Phạm Văn M, Phạm Văn C, Phạm Thị T, Phạm Văn T1 được quyền sử dụng.

1.3. Ông Phạm Văn M, Phạm Văn C7, Phạm Thị T10, P7 có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản cho bị đơn số tiền 5.400.000 (năm triệu bốn trăm ngàn) đồng.

1.4. Ông Phạm Văn M, Phạm Văn C, Phạm Thị T10, P6 được quyền sở hữu tài sản trên đất là 21 cây trầm vàng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H15 “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4.

2.1. Bà Huỳnh Thị H16 được quyền sử dụng phần đất diện tích 332,1 m² đất lúa trong thửa 330 và diện tích 284,5m² đất cây lâu năm trong thửa 345; diện tích 196,1 m² đất lúa thuộc thửa 356 tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có từ cận như sau:

- Hướng Đông giáp đất bà X6 chia dài 18,23m + 32,43m;

- Hướng Tây giáp thửa 330, 345, 356 (phần đất ông D1) dài 17,67m + 29,46m + 26,27m;

- Hướng Nam giáp đường nhựa dài 11m;

- Hướng Bắc giáp đất ông L2 dài 1,78m + 9,63m + 0,48m.

2.2. Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 332,1 m² đất lúa trong thửa 330 và diện tích 284,5m² đất cây lâu năm trong thửa 345; diện tích 196,1 m² đất lúa thuộc thửa 356 tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho bà Huỳnh Thị H16 được quyền sử dụng.

2.3. Bà Huỳnh Thị H17 có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 số tiền 14.170.000 (Mười bốn triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng giá trị tài sản.

2.4. Bà Huỳnh Thị H16 được quyền sở hữu cây trồng trên đất gồm 08 cây cao su, 04 cây dừa, 01 cây điều, 22 cây trầm vàng.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Bông, ông Đoàn V5 P1, bà Đoàn Thị B1, ông Đoàn Tấn S1 “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Đoàn Thị N8, Đ2 T4.

3.1. Bà Hồ Thị B, ông Đoàn V5 P1, bà Đoàn Thị B1, ông Đoàn Tấn S5 được quyền sử dụng phần đất diện tích 1.241,6m² đất lúa trong thửa 331 và diện tích 402,1m² đất lúa trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BĐ 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có từ cận như sau:

- Hướng Đông giáp đất thửa 314, 332 dài 19,91m + 57,27m + 5,81m + 1,39m;

- Hướng Tây giáp phần còn lại của thửa 331, 356 dài dài 20,1m + 60,96m;

- Hướng Nam giáp đường nhựa dài 20m;

- Hướng Bắc giáp thửa 313 dài 14,31m.

3.2. Buộc đồng bị đơn bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 1.241,6m² đất lúa trong thửa 331 và diện tích 402,1m² đất lúa trong thửa 356, tờ bản đồ số 58 (BD 2005), tọa lạc tại khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho bà Hồ Thị B5, ông Đoàn Văn P1, bà Đoàn Thị B1, ông Đoàn Tấn S1.

(Kèm theo sơ đồ đất) 4. Kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai điều chỉnh 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 của Ủy ban nhân dân huyện T13 (nay là thị xã T) cấp cùng ngày 08/5/2009 cho ông Đoàn Văn D20 đứng tên và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 04962QSD/439/2001/QĐUB Ủy ban nhân dân huyện T13 (nay là thị xã T) vào ngày 20/6/2001 do ông Đoàn Văn D8 đứng tên cho phù hợp với quyết định của bản án.

5. Chấp nhận yêu cầu phân tố của bà Đoàn Thị N2 “Tranh chấp đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với bà Huỳnh Thị H15.

Buộc bà Huỳnh Thị H17 có nghĩa vụ trả lại 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số H04694, H04695 do Ủy ban nhân dân huyện T13 (nay là thị xã T) cấp cùng ngày 08/5/2009 do ông Đoàn Văn D8 đứng tên (bản gốc). Giao nộp tại Cơ quan Chi Cục thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Tây Ninh để thi hành án.

6. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn K1, Huỳnh Văn Đ1, H20.

7. Chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản:

Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 có nghĩa vụ trả lại ông Phạm Văn T12 tiền 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng.

Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 có nghĩa vụ trả lại bà Huỳnh Thị H19 (Hai triệu) đồng.

Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 trả lại ông Đoàn Tấn S8 tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.

8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Văn T11 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Huỳnh Thị H15.

Hoàn trả cho ông Huỳnh Văn Đ1 Huỳnh Văn N2 bà Huỳnh Thị T5 số tiền tạm ứng án phí 1.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026694 ngày 01/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Hoàn trả cho ông Đoàn Tấn S7 Đoàn Văn P1, bà Đoàn Thị B1 số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026905 ngày 17/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Bà Đoàn Thị N8 Đ2 T4 phải chịu 900.000 (chín trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Đoàn Thị N15 tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027288 ngày 12/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

9. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Đoàn Thị N2 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Ghi nhận đã nộp xong theo Biên lai thu số: 0027456 ngày 16-8-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

60
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 415/2024/DS-PT

Số hiệu:415/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;