Bản án về tranh chấp lối đi số 05/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐNG THÁP

BẢN ÁN 05/2023/DS-ST NGÀY 10/02/2023 VỀ TRANH CHẤP LỐI ĐI

Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 323/2020/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2020, về tranh chấp lối đi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Quốc P, sinh năm 1956 (chết năm 2021);

Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P:

Bà Phạm Thị Quỳnh H, sinh năm 1956;

Anh Phạm Quốc C, sinh năm 1986;

Anh Phạm Quốc T, sinh năm 1993;

Người đại diện theo ủy quyền của bà H, anh C: Anh Phạm Quốc T, sinh năm 1993;

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2022).

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc Đ, sinh năm 1966;

Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Trần Thị Thế T1, sinh năm 1986;

Người đại diện theo ủy quyền của chị T1 : Anh Phạm Quốc T, sinh năm 1993;

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2022).

(Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 07/9/2020 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, phía nguyên đơn trình bày:

Ông Phạm Quốc P và bà Phạm Thị Ngọc Đ là anh em ruột. Ông P và bà Đ có hai phần đất giáp ranh nhau. Năm 1985, mẹ ruột ông P là cụ Lê Thị T2 cho ông P 1.080m2 đất vườn, do phần đất này nằm phía sau, không gần đường công cộng nên cụ T2 có cho ông thêm lối đi ngang qua phần đất của cụ T2 chiều ngang 3,5m và dài 3,5m, việc cho nhận chỉ nói miệng, lối đi này được gia đình ông sử dụng ổn định từ năm 1985 đến nay, không ai tranh chấp. Ngày 03/4/2007, hộ ông P được cấp quyền sử dụng đất diện tích 2.003m2 ( gồm 1.080m2 cụ T2 cho, phần còn lại nhận chuyển nhượng từ người khác), thuộc thửa 171, TBĐ 42, toàn bộ diện tích này ông P dùng trồng nhãn để tạo thu nhập chi tiêu trong gia đình.

Khi cụ T2 chia đất cho tất cả anh chị em của ông, trong đó phần đất diện tích 717m2 thuộc thửa 192, tờ bản đồ 42 được cụ T2 tặng cho bà Đ theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chứng thực ngày 28/4/2010, trong diện tích này có lối đi của gia đình ông được cụ T2 cho sử dụng từ năm 1985. Ngày 04/10/2010, bà Đ được cấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, gia đình ông vẫn được tiếp tục sử dụng lối đi này, không ai ngăn cản.

Năm 2020, giữa bà Đ và chị ruột là bà Phạm Ngọc M phát sinh tranh chấp, ông P được triệu tập để lấy lời khai vì là chỗ anh chị em ruột trong gia đình. Sau đó, bà M được Tòa án chấp nhận yêu cầu nên bà Đ cho rằng lời khai của ông P làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà. Đến ngày 22/6/2020, bà Đ đem cọc và lưới B40 rào lối đi vào vườn của gia đình ông P. Hiện gia đình ông P chỉ có một lối đi này là thuận tiện để ra vào giữa thửa 171 và đường công cộng. Ngoài ra, gia đình ông P không còn lối đi nào khác.

Nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông P xác định chỉ yêu cầu được mở lối đi ngang 2m, dài 3,5m (thực đo 3,2m và 4,45m) thuộc thửa 192, tờ bản đồ 42 do bà Phạm Thị Ngọc Đ đứng tên quyền sử dụng đất, tương ứng các mốc 7-A-8-B-C-7 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai. Đây cũng là lối đi gia đình ông Phạm Quốc P sử dụng ổn định trên 30 năm và hiện không còn lối đi nào khác. Đồng thời, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P tự nguyện hỗ trợ cho bà Đ số tiền đề sử dụng lối đi là 500.000 đồng/m2 và chi phí di dời hàng rào là 1.000.000 đồng.

Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn bà Phạm Thị Ngọc Đ trình bày:

Ngày 04/10/2010, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 717m2 thuộc thửa 192, TBĐ 42, phần đất này bà được nhận từ mẹ ruột là cụ Lê Thị T2 theo hợp đồng tặng cho chứng thực ngày 28/4/2010. Trong phần đất này có lối đi mà gia đình ông P dùng đi từ đường công cộng vào thửa 171 từ năm 1985.

Bà và ông P là anh em ruột, khi mẹ ruột ông bà là cụ Lê Thị T2 còn sống ông P đã không phụng dưỡng mẹ ruột, vợ chồng ông P thường dùng lời lẽ khó nghe, bất kính xúc phạm mẹ ruột. Anh em ruột ở gần với nhau nhưng ông P lại thường xuyên gây khó khăn, dùng lời lẽ thiếu tế nhị xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bà, lấn lướt bà từng chuyện trong sinh hoạt hàng ngày. Năm 2018, ông P xúi giục bà Phạm Ngọc M là chị ruột của ông bà thưa bà giành đất làm rạn nứt tình nghĩa anh chị em ruột trong nhà. Việc ông P cho rằng ông chỉ có một lối đi duy nhất theo đơn khởi kiện là hoàn toàn không đúng sự thật, ông P có thể sử dụng lối đi khác nữa nhưng nay lại khởi kiện giành đất của bà. Ông P tranh chấp lối đi mục đích để thuận lợi chuyển nhượng đất cho người khác, bà Đ không đồng ý cho lối đi vì nếu có việc chuyển nhượng thì người khác sẽ đi lối đi đó và đi ngang đầu mộ làm ảnh hưởng đến nơi an nghỉ của ông, bà, cha, mẹ; hơn nữa đất này bà đang đứng tên quyền sử dụng đất nên có cho lối đi hay không là quyền của bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Thế T1 ủy quyền anh Phạm Quốc T trình bày:

Chị T1 thống nhất lời trình bày của ông Phạm Quốc P, bà Phạm Thị Quỳnh H, anh Phạm Quốc C, anh Phạm Quốc T, không có ý kiến khác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P. Buộc bà Phạm Thị Ngọc Đ mở lối đi cho gia đình ông P gồm bà H, anh C, anh T lối đi ngang 2m, chiều dài thực đo một cạnh là 3,2m và một cạnh là 4,45m theo các mốc 7-A-8-B-C-7 là 7,1m2 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai. Chấp nhận sự tự nguyện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P hỗ trợ trả giá trị đất 500.000đ/m2 và chi phí di dời hàng rào là 1.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ lý đơn và thẩm quyền giải quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ; thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Phạm Thị Ngọc Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Phạm Quốc P gồm:

- Yêu cầu được mở lối đi ngang 2m, chiều dài một cạnh là 3,2m và một cạnh là 4,45m thuộc thửa 192, tờ bản đồ 42 do bà Phạm Thị Ngọc Đ đứng tên quyền sử dụng đất, tương ứng các mốc 7-A-8-B-C-7 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đ1;

- Tự nguyện hỗ trợ cho bà Đ số tiền sử dụng lối đi là 500.000 đồng/m2 và chi phí di dời hàng rào là 1.000.000 đồng.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Quá trình giải quyết, các bên đương sự đều thống nhất nguồn gốc phần đất lối đi, xác định lối đi thuộc một phần thửa 192, tờ bản đồ 42 do bà Phạm Thị Ngọc Đ đứng tên quyền sử dụng đất cấp ngày 04/10/2010, lối đi đã được gia đình ông P sử dụng ổn định từ năm 1985, được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Đ cho rằng phía gia đình ông P có thể sử dụng lối đi qua đất của anh Nguyễn Quốc T3 để vào thửa 171. Tuy nhiên tại phiên tòa, các bên đương sự đều xác định hiện anh T3 đã rào chắn lại phần đất của mình. Đồng thời khi sử dụng lối đi này, phía gia đình ông P phải đi qua đất của những chủ đất khác nên rất bất tiện.

Đối với lối đi từ phần đất của vợ chồng ông Lê Văn H1, bà Đặng Thị Mỹ L thì ông H1, bà L và gia đình ông P không thống nhất được giá chuyển nhượng. Mặt khác, lối đi mà ông H1, bà L đồng ý chuyển nhượng là một mương nước nếu muốn sử dụng thì hộ ông P phải san lắp hoặc xây cầu mới có thể sử dụng được, sẽ phát sinh thêm chi phí và bất tiện cho việc vận chuyển phân, thuốc, thu hoạch hoa lợi.

Như vậy, có cơ sở xác định lối đi đang tranh chấp thuộc một phần thửa 192, tờ bản đồ 42 do bà Phạm Thị Ngọc Đ đứng tên quyền sử dụng đất, tương ứng các mốc 7-A-8-B-C-7 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã được gia đình ông P sử dụng ổn định từ năm 1985 và đây cũng là lối đi thuận tiện nhất.

[3.2] Quá trình giải quyết, bà Đ cũng thừa nhận gia đình ông P sử dụng lối đi thuộc một phần thửa 192, tờ bản đồ 42 từ năm 1985. Trong suốt quá trình sử dụng, bà cũng đồng ý, không có ý kiến gì. Tuy nhiên do tranh chấp giữa bà và bà M, ông P lại đứng ra xúc giục và làm chứng cho bà M làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà nên lối đi trong đất của bà thì bà có quyền không đồng ý cho sử dụng nữa là không Phù hợp.

[3.3] Từ những phân tích nêu trên việc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P yêu cầu bà Phạm Thị Ngọc Đ mở lối đi thuộc một phần thửa 192, tờ bản đồ 42 do bà Phạm Thị Ngọc Đ đứng tên quyền sử dụng đất, tương ứng các mốc 7-A-8-B-C-7 theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4] Tại phiên tòa ngày 11/01/2023, các bên đương sự không có yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp. Theo biên bản định giá tài sản ngày 20/4/2021 giá đất là 117.000 đồng/m2. Tuy nhiên, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P xác định tự nguyện hỗ trợ số tiền cho bà Đ để sử dụng lối đi là 500.000đ/m2 (7,1m2 x 500.000 đồng = 3.550.000 đồng) và hỗ trợ di dời hàng rào là 1.000.000 đồng, tổng cộng 4.550.000 đồng. Tại phiên tòa, bà Đ yêu cầu giá trị phần đất lối đi là 50.000.000 đồng/m2. Căn cứ mục đích sử dụng, vị trí đất cũng như giá đất tại khu vực nhận thấy yêu cầu của bà Đ là không có cơ sở chấp nhận. Xét sự tự nguyện hỗ trợ của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P là có lợi cho bị đơn, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Phạm Thị Ngọc Đ mở cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc p là bà Phạm Thị Quỳnh H, anh Phạm Quốc C, anh Phạm Quốc T lối đi ngang 2m, chiều dài một cạnh là 3,2m và một cạnh là 4,45m, diện tích 7,1m2 thuộc các mốc 7-A-8-B-C-7 theo sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1; ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ trả tiền để sử dụng lối đi cho bà Đ là 500.000đ/m2 và chi phí di dời hàng rào là 1.000.000 đồng. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí là 2.685.000 đồng. Tại phiên tòa, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P xác định tự nguyện chịu, đã nộp xong.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 92, 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 245, 246, 254 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 171 Luật đất đai;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P là bà Phạm Thị Quỳnh H, anh Phạm Quốc C, anh Phạm Quốc T.

2. Buộc bà Phạm Thị Ngọc Đ mở cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P là bà Phạm Thị Quỳnh H, anh Phạm Quốc C, anh Phạm Quốc T lối đi ngang 2m, chiều dài một cạnh là 3,2m và một cạnh là 4,45m, diện tích 7,1m2 thuộc các mốc 7-A-8-B-C-7.

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P là bà Phạm Thị Quỳnh H, anh Phạm Quốc C, anh Phạm Quốc T lối đi ngang 2m, chiều dài một cạnh là 3,2m và một cạnh là 4,45m, diện tích 7,1m2 thuộc các mốc 7-A-8-B-C-7 theo sơ đồ đo đạc ngày 20/4/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ1 và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/4/2021.

3. Chấp nhận sự tự nguyện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P hỗ trợ cho bà Phạm Thị Ngọc Đ số tiền để sử dụng lối đi và hỗ trợ di dời hàng rào, tổng cộng 4.550.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).

4. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Chi cục thi hành án dân sự có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị Ngọc Đ chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Hoàn trả cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P là bà Phạm Thị Quỳnh H, anh Phạm Quốc C, anh Phạm Quốc T số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai số 0011774 ngày 21/12/2020 là 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

6. Về chi phí tố tụng khác:

Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tranh chấp là 2.685.000 đồng. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phạm Quốc P là bà Phạm Thị Quỳnh H, anh Phạm Quốc C, anh Phạm Quốc T tự nguyện chịu, đã nộp xong.

7. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp lối đi số 05/2023/DS-ST

Số hiệu:05/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/02/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;