Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 07/2024/DS-KDTM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGH AN

BẢN ÁN 07/2024/DS-KDTM NGÀY 31/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 31/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 74/2023/TLST-KDTM ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định hoãn phiên tòa số 88/2023/QĐST-KDTM ngày 29/12/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q1.

Địa chỉ: Tầng A và tầng 2, tòa nhà S - A P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Hàn Ngọc V - Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

- Ông Trần Thanh C - Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/10/2022 ) (vắng mặt).

- Ông Châu Văn T - Cán bộ là người đại diện theo ủy quyền lại (Văn bản ủy quyền ngày 05/10/2023) có mặt.

2. Bị đơn :

- Anh Lê Văn T1, sinh năm 1994 - Đại diện hộ Kinh doanh cá thể (vắng mặt).

Nơi cư trú: Xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

- Chị Lê Thị D, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 07 năm 2023 và trong quá giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại c phần Q1 trình bày:

Ngày 24/05/2022, khách hàng anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D và Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 ký hợp đồng tín dụng số 6858982.22, nội dung như sau:

- Số tiền vay: 480.000.000 đồng.

- Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh buôn bán vật liệu xây dựng.

- Thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày 25/05/2022 đến ngày 24/05/2023.

- Lịch trả nợ gốc: Cuối kỳ.

- Lịch trả lại: Hàng tháng vào ngày 03, kỳ trả lại đầu tiên vào ngày 03/06/2022.

- Lãi suất cho vay : 10,40 %/năm, lãi suất này sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,8%/năm.

- Lãi suất quá hạn : 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

- Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả : 10%/năm.

- Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc Ngân hàng có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn. Nếu khách hàng không trả hết nợ gốc phải trả đúng hạn.

- Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay:

Anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 1686 (lô 08), tờ bản đồ số 15 (QH 2016), diện tích 183 m2 đất ở, địa chỉ: xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D ngày 28/06/2017, tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

- Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.

- Ngày 24/05/2022 Ngân hàng đã giải ngân cho anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D 480.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 968759558 của chị Lê Thị D mở tại Ngân hàng. Anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D đã ký khế ước nhận nợ 480.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D trả tiền lãi khoản vay từ ngày 24/05/2022 đến ngày 04/05/2023 là 48.058.408 đồng, còn nợ tiền lãi là 5.084.825 đồng; đến kỳ trả nợ gốc, lãi ngày 24/05/2023 nhưng anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi.

Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu anh T1, chị D trả nợ gốc, nợ lãi nhưng anh T1, chị D vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo yêu cầu.

Do đó Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 như sau:

Nợ gốc: 480.000.000 đồng.

Lãi trong hạn: - Từ ngày 03/04/2023 đến ngày 03/05/2023 là 31 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm = 5.340.493 đồng. Đã thanh toán 255.668 đồng còn nợ 5.084.825.

- Từ ngày 04/05/2023 đến ngày 23/05/2023 là 20 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm = 3.445.479 đồng.

Lãi quá hạn: từ ngày 24/05/2023 đến ngày 31/01/2024 là 271 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm x 150% = 65.736.365 đồng.

Tổng là 554.266.669 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.

- Trong trường hợp khách hàng anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 thì cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.

- Trường hợp sau khi phát mãi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì khách hàng anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.

Đại diện Viện kim sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, công b việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa và việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 4; Điều 306 Luật Thương mại; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 318, 307, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Q1.

Buộc bị đơn là anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, bao gồm: nợ gốc 480.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 8.530.304 đồng; nợ lãi quá hạn là 65.736.365 đồng; tổng cộng: 554.266.669đ (Năm trăm năm mươi tư triệu, hai trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi chín đồng).

Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ, Ngân hàng có quyền phát mại tài sản đảm bảo hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo là: thửa đất số 1686 (lô 08), tờ bản đồ số 15 (QH 2016), diện tích 183 m2 đất ở, địa chỉ: xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) số CH 932551 cho anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D ngày 28/06/2017 theo quy định của pháp luật.

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho anh T1 và chị D.

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán anh T1 và chị D tiếp tục phải thực hiện.

Vvề án phí: Bị đơn phải chịu án phí Kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của Ngân hàng thương mại Cổ phần B tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D có địa chỉ rõ ràng trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp bất động sản. Đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T1, chị D vắng mặt phiên họp không có lý do.

Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 2 thì anh T1, chị D vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành phiên họp và đã tống đạt kết quả phiên họp cho anh T1, chị D.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh T1, chị D nhưng anh T1, chị D vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2] Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 ( sau đây viết tắt là V1) và anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D đã ký kết hợp đồng tín dụng số 6858982.22 ngày 24/05/2022. Nội dung : số tiền vay 480.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh buôn bán vật liệu xây dựng; thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày 25/05/2022 đến ngày 24/05/2023; lãi suất cho vay: 10,40%/năm lãi suất này sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,8%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lịch trả nợ gốc: cuối kỳ; lịch trả lãi: Hàng tháng vào ngày 03, kỳ trả lại đầu tiên vào ngày 03/06/2022; lãi suất trên số tiền lãi chậm trả : 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì VIB có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.

Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay:

- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 1686 (lô 08), tờ bản đồ số 15 (QH 2016), diện tích 183 m2 đất ở, địa chỉ: xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D ngày 28/06/2017.

- Ngày 24/05/2022 Ngân hàng đã giải ngân cho anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D 480.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 968759558 của chị Lê Thị D mở tại Ngân hàng. Anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D đã ký khế ước nhận nợ 480.000.000 đồng.

[3] Thực hiện hợp đồng: Ngày 24/05/2022 V1 đã giải ngân cho anh T1, chị D 480.000.000 đồng và anh T1, chị D đã nhận nợ là 480.000.000 đồng. Anh T2, chị D trả tiền lãi khoản vay từ ngày 24/05/2022 đến ngày 04/05/2023 là 48.058.408 đồng, còn nợ tiền lãi là 5.084.825 đồng; đến kỳ trả nợ gốc, lãi ngày 24/05/2023 nhưng anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi.

Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu anh T1, chị D trả nợ gốc, nợ lãi nhưng anh T1, chị D vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo yêu cầu.

Do anh T1, chị D vi phạm hợp đồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T1, chị D phải trả cho V1 như sau:

Nợ gốc: 480.000.000 đồng.

Lãi trong hạn: - Từ ngày 03/04/2023 đến ngày 03/05/2023 là 31 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm = 5.340.493 đồng. Đã thanh toán 255.668 đồng còn nợ 5.084.825.

- Từ ngày 04/05/2023 đến ngày 23/05/2023 là 20 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm = 3.445.479 đồng.

Đến ngày 24/05/2023 phải trả nợ gốc nhưng anh T1, chị D không trả nên phải chịu lãi suất quá hạn là 150% x lãi suất trong hạn 13,1%/năm = 19,65%/năm.

Lãi quá hạn: từ ngày 24/05/2023 đến ngày 31/01/2024 là 271 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm x 150% = 65.736.365 đồng.

Tổng là 554.266.669 đồng.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng số 6858982.22 ngày 24/05/2022 đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ. Hợp đồng thể chấp bất động sản đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ trước mặt công chứng viên Phan Đức Q, Văn phòng C1, trình tự thủ tục thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện hợp đồng, V1 đã giải ngân 480.000.000 đồng cho anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D và anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D đã ký nhận nợ 480.000.000 đồng.

Anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D thực hiện hợp đồng đã thanh toán tiền lãi khoản vay cho V1 đến ngày 04/05/2023 với mức lãi suất 10,40 %/năm, số tiền là 48.058.408 đồng.

Như vậy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp hợp pháp về cả nội dung và hình thức, đã được các bên thực hiện cần được chấp nhận.

Theo Hợp đồng tín dụng anh T1, chị D phải trả tiền lãi vào ngày 03 hàng tháng, tiền gốc vào ngày 24/05/2023. Tuy nhiên đến kỳ hạn trả tiền lãi ngày 04/05/2023 và kỳ trả tiền gốc, lãi ngày 24/05/2023 nhưng anh T1, chị D không trả. Do anh T1, chị D vi phạm hợp đồng nên VIB yêu cầu anh T1, chị D trả tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn cho V1 theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1. Buộc anh T1, chị D phải trả cho V1.

Nợ gốc: 480.000.000 đồng.

Lãi trong hạn: - Từ ngày 03/04/2023 đến ngày 03/05/2023 là 31 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm = 5.340.493 đồng. Đã thanh toán 255.668 đồng còn nợ 5.084.825.

- Từ ngày 04/05/2023 đến ngày 23/05/2023 là 20 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm = 3.445.479 đồng.

Đến ngày 24/05/2023 phải trả nợ gốc nhưng anh T1, chị D không trả nên phải chịu lãi suất quá hạn là 150% x lãi suất trong hạn 13,1%/năm = 19,65%/năm.

Lãi quá hạn: từ ngày 24/05/2023 đến ngày 31/01/2024 là 271 ngày x 480.000.000 đồng x 13,1%/năm x 150% = 65.736.365 đồng.

Tổng là 554.266.669 đồng.

[5] Tài sản thế chấp: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2023. Thửa đất thế chấp có kích thước, diện tích đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và không có tài sản gắn liền thửa đất. Đất không có tranh chấp.

Nếu anh T1, chị D không trả hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng trên thì VIB có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.

[6] Về án phí, chi phí tố tụng:

Yêu cầu của V1 được chấp nhận nên anh T1, chị D phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 20.000.000 đồng + (554.266.669 đồng - 400.000.000 đồng) x 4% = 26.170.666 ( Hai mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Tiền tạm ứng chi phí tố tụng VIB nộp 8.000.000 đồng đã chi hết cho các thành viên xem xét thẩm định tại chỗ. Tại phiên tòa VIB tự nguyện chịu chi phí tố tụng và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 4; Điều 306 Luật Thương mại; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 318, 307, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1.

2. Buộc anh Lê văn T3 và chị Lê Thị D phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 6858982.22 ngày 24/05/2022 bao gồm: nợ gốc là 480.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 8.530.304 đồng; nợ lãi quá hạn là 65.736.365 đồng; tổng cộng: 554.266.669đ (Năm trăm năm mươi tư triệu, hai trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi chín đồng).

3. Xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật anh T3 và chị D không trả hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 6858982.22 ngày 24/05/2022 thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp “Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 1686 (lô 08), tờ bản đồ số 15 (QH 2016), diện tích 183 m2 đất ở, địa chỉ: xóm P, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) số CH 932551 cho anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D ngày 28/06/2017 theo quy định của pháp luật.

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho anh T1 và chị D.

Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chua được thanh toán anh T1 và chị D tiếp tục phải thực hiện.

Trường hợp anh T1 và chị D trả đủ số tiền nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T1, chị D.

4. Án phí:

Buộc anh Lê Văn T1 và chị Lê Thị D phải chịu tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 26.170.666 ( Hai mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.125.780đ ( Mười hai triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn, bảy trăm tám mươi đồng ) theo biên lai thu tiền số 0002314 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

5. Thi hành án, nghĩa vụ chậm thi hành án:

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

67
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 07/2024/DS-KDTM

Số hiệu:07/2024/DS-KDTM
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;