TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
BẢN ÁN 03/2024/DS-KDTM NGÀY 29/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 29/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 79/2023/TLST-KDTM ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định hoãn phiên tòa số 90/2023/QĐST-KDTM ngày 29/12/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần X.
Địa chỉ: Lầu H tòa nhà V, số G L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Bà Đỗ Hà P - Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Minh Đ - Giám đốc NHXNKVM Chi nhánh V là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/10/2023 ) (vắng mặt).
- Ông Lưu Đức T - Chuyên viên phòng KHCN Chi nhánh V là người đại diện theo ủy quyền lại (Văn bản ủy quyền ngày 25/10/2023) có mặt.
2. Bị đơn:
Anh Trần Danh H, sinh năm 1993 (vắng mặt) Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Chị Đậu Thị N, sinh năm 1994 (vắng mặt) Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 10 năm 2023 và trong quá giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X trình bày:
Ngày 13/10/ 2022, khách hàng anh Trần Xuân H1, chị Đậu Thị N và Ngân hàng thương mại cổ phần X ký hợp đồng tín dụng số 1602-LAV-220088929, nội dung như sau:
- Số tiền vay : 1.450.000.000 đồng.
- Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh vật liệu xây dựng.
- Thời hạn vay 11 tháng, kể từ ngày 18/10/2022 đến ngày 18/09/2023.
- Lịch trả nợ gốc : Trả một lần khi đáo hạn khoản vay.
- Lịch trả lại: Hàng tháng vào ngày 15, kỳ đầu tiên trả nợ lãi là ngày 15/11/2022, kỳ trả nợ lãi cuối cùng là ngày 18/09/2023.
- Lãi suất cho vay : 9,8 %/năm, Lãi suất cho vay cố định 03 tháng đầu là 2,2%/năm. Lãi suất từ tháng thứ 4 bằng lãi suất cơ bản + 2,2%/năm. Lãi suất cơ sở được E công bố theo từng thời kỳ, định kỳ thay đổi lãi suất 03 tháng/lần.
- Lãi suất trên nợ gốc quá hạn chưa trả: 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả : 10%/năm.
- Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc Ngân hàng có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn. Nếu khách hàng không trả hết nợ gốc phải trả đúng hạn.
- Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay: Anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 218, tờ bản đồ số 69, diện tích 193,2 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N ngày 19/08/2022, tại Ngân hàng thương mại cổ phần X để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
- Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
- Ngày 18/10/2022 đã giải ngân cho anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N bằng hình thức chuyển khoản 1.450.000.00 đồng cho bà Võ Thị Thúy H3, số tài khoản 1010936868 tại Ngân hàng M-Chi nhánh N1. Anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N đã ký khế ước nhận nợ 1.450.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N trả tiền lãi khoản vay từ ngày 18/10/2022 đến ngày 14/08/2023 là 127.147.123 đồng, đến kỳ trả lãi và gốc ngày 18/09/2023 nhưng anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi nên ngày 27/09/2023 Ngân hàng ra Thông báo nợ quá hạn «Khoản vay của anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N đã chuyển sáng nợ quá hạn từ ngày 18/09/2023. Tổng nợ vay và nợ quá hạn là 1.468.668.229 trong đó nợ gốc 1.447.879.769 đồng, lãi trong hạn 14.861.108 đồng, lãi quá hạn 5.927.325 đồng và yêu cầu anh H2, chị N thanh toán hết số tiền trong ngày 27/09/2023» gửi cho anh H2, chị N. Nhưng anh H2, chị N vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thông báo.
Do đó yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N phải trả cho Ngân hàng X như sau:
Nợ gốc: 1.447.879.769 đồng.
Lãi trong hạn: từ ngày 15/08/2023 đến ngày 17/09/2023 là 34 ngày x 1.450.000.000 đồng x 11%/năm = 14.857.534 đồng.
Lãi quá hạn: từ ngày 18/09/2023 đến ngày 29/01/2023 là 134 ngày x 1.447.879.796.000 đồng x 11%/năm x 150% = 87.705.814 đồng.
Tổng là 1.550.443.147 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
- Trong trường hợp khách hàng anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần X thì cho phát mại ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
- Trường hợp sau khi phát mại bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì khách hàng anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, công bố việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa và việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 4; Điều 306 Luật Thương mại; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 318, 307, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần X. Buộc bị đơn là anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn, bao gồm nợ gốc 1.447.879.769 đồng; nợ lãi trong hạn 14.857.534 đồng; nợ lãi quá hạn 87.705.814 đồng; tổng cộng: 1.550.443.147đồng. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ, Ngân hàng có quyền phát mại tài sản đảm bảo hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đảm bảo là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 218, tờ bản đồ số 69, diện tích 193,2 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Về án phí, chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của Ngân hàng thương mại cổ phần B tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bị đơn anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N có địa chỉ rõ ràng trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp bất động sản. Đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N vắng mặt phiên họp không có lý do.
Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 2 thì anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành phiên họp và đã tống đạt kết quả phiên họp cho anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N nhưng anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[2] Ngân hàng thương mại cổ phần X ( sau đây viết tắt là E1) và bà anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N đã ký kết hợp đồng tín dụng số 1602-LAV- 220088929 ngày 13/10/2022. Nội dung : số tiền vay 1.450.000.000 đồng; mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh vật liệu xây dựng; thời hạn vay: 11 tháng , kể từ ngày 18/10/2022 đến ngày 18/09/2023; lãi suất cho vay: 9,8 %/năm, Lãi suất cho vay cố định 03 tháng đầu là 2,2%/năm. Lãi suất từ tháng thứ 4 bằng lãi suất cơ bản + 2,2%/năm. Lãi suất cơ sở được E công bố theo từng thời kỳ, định kỳ thay đổi lãi suất 03 tháng/lần; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; lịch trả nợ gốc: trả một lần khi đáo hạn khoản vay; lịch trả lãi: hàng tháng vào ngày 15, kỳ đầu tiên trả nợ lãi là ngày 15/11/2022, kỳ trả nợ lãi cuối cùng là ngày 18/09/2023.; lãi suất trên số tiền lãi chậm trả : 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc Ngân hàng có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn. Nếu khách hàng không trả hết nợ gốc phải trả đúng hạn.
- Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 218, tờ bản đồ số 69, diện tích 193,2 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N ngày 19/08/2022.
- Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì E1 có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
[3] Thực hiện hợp đồng:
Ngày 18/10/2022 E1 đã giải ngân cho anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N bằng hình thức chuyển khoản 1.450.000.00 đồng cho bà Võ Thị Thúy H3, số tài khoản 1010936868 tại Ngân hàng M- Chi nhánh N1. Anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N đã ký khế ước nhận nợ 1.450.000.000 đồng.
Anh H2, chị N trả tiền lãi khoản vay từ ngày 18/10/2022 đến ngày 14/08/2023 là 127.147.123 đồng. Đến kỳ trả nợ gốc, lãi ngày 18/09/2023 nhưng anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi nên ngày 27/09/2023 E1 ra Thông báo nợ quá hạn «khoản vay của anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N đã chuyển sáng nợ quá hạn từ ngày 18/09/2023. Tổng nợ vay và nợ quá hạn là 1.468.668.229 trong đó nợ gốc 1.447.879.769 đồng, lai trong hạn 14.861.108 đồng, lãi quá hạn 5.927.325 đồng và yêu cầu anh H2, chị N thanh toán hết số tiền trong ngày 27/09/2023” gửi cho anh H2, chị N. Nhưng anh H2, chị N vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi theo thông báo.
Do anh E12, chị N vi phạm hợp đồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh H2, chị N phải trả cho E1 như sau:
Nợ gốc: 1.447.879.769 đồng.
Lãi trong hạn: từ ngày 15/08/2023 đến ngày 17/09/2023 là 34 ngày x 1.450.000.000 đồng x 11%/năm = 14.857.534 đồng.
Đến ngày 18/09/2023 phải trả nợ gốc nhưng anh H2, chị N không trả nên phải chịu lãi suất quá hạn là 150% x lãi suất trong hạn 11%/năm = 16,5%/năm.
Lãi quá hạn: từ ngày 18/09/2023 đến ngày 29/01/2023 là 134 ngày x 1.447.879.796.000 đồng x 16,5%/năm = 87.705.814 đồng.
Tổng là 1.550.443.147 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng số 1602-LAV-220088929 ngày 13/10/2022 đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ. Hợp đồng thế chấp bất động sản đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ trước mặt công chứng viên Nguyễn Thị Diệu L, Phòng C tỉnh Nghệ An, trình tự thủ tục thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.
Thực hiện hợp đồng, E1 đã giải ngân 1.450.000.000 đồng cho anh H2, chị N và anh H2, chị N đã ký khế ước nhận nợ 1.450.000.000 đồng.
Anh H2, chị N thực hiện hợp đồng đã thanh toán tiền lãi khoản vay cho E1 đến ngày 14/08/2023 với mức lãi suất 9,8%/năm, số tiền là 127.147.123 đồng.
Như vậy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp hợp pháp về cả nội dung và hình thức, đã được các bên thực hiện cần được chấp nhận.
Theo Hợp đồng tín dụng anh H2, chị N phải trả tiền lãi vào ngày 15 hàng tháng, tiền gốc vào ngày 18/09/2023. Tuy nhiên đến kỳ hạn trả tiền lãi cuối kỳ, tiền gốc ngày 18/09/2023 nhưng anh H2, chị N không trả. Theo Hợp đồng ngày 27/09/2023 E1 đã ra thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn ngày 18/09/2023 nhưng anh H2, chị N không thực hiện. Do anh H2, chị N vi phạm hợp đồng nên E1 yêu cầu anh H2, chị N trả tiền gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn cho E1 theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của El. Buộc anh H2, chị N phải trả cho E2 gồm.
Nợ gốc: 1.447.879.769 đồng.
Lãi trong hạn: từ ngày 15/08/2023 đến ngày 17/09/2023 là 34 ngày x 1.450.000. 000 đồng x 11%/năm = 14.857.534 đồng.
Lãi quá hạn: từ ngày 18/09/2023 đến ngày 29/01/2023 là 134 ngày x 1.447.879.796.000 đồng x 16,5%/năm = 87.705.814 đồng.
Tổng là 1.550.443.147 đồng.
[5] Tài sản thế chấp: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2023. Thửa đất thế chấp có kích thước, diện tích đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và có tài sản tọa lạc trên thửa đất. Đất không có tranh chấp.
Nếu anh H2, chị N không trả hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng trên thì E1 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
[6] Về án phí, chi phí tố tụng:
Yêu cầu của E1 được chấp nhận nên anh H2, chị N phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 36.000.000 đồng + (1.550.443.147 đồng - 800.000. 000 đồng) x 3% = 58.513.290 đồng.
Tiền tạm ứng chi phí tố tụng E1 nộp 8.000.000 đồng đã chi hết cho các thành viên xem xét thẩm định tại chỗ.
Yêu cầu của E1 được chấp nhận nên anh H2, chị N phải chịu chi phí tố tụng là 8.000.000 đồng. Số tiền chi phí tố tụng 8.000.000đ (Tám triệu đồng) anh H2, chị N phải hoàn trả cho E1 tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 4; Điều 306 Luật Thương mại; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 318, 307, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 167 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1 .Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần X.
2. Buộc anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần X số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1602-TAV-220088929 ngày 13/10/2022 bao gồm: nợ gốc là 1.447.879.769 đồng; nợ lãi trong hạn là 14.857.534 đồng; nợ lãi quá hạn là 87.705.814 đồng; tổng cộng: 1.550.443.147đ (Một tỷ, năm trăm năm mươi triệu, bốn trăm bốn mươi ba nghìn, một trăm bốn mươi bảy đồng).
3. Xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N không trả hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 1602-LAV-220088929 ngày 13/10/2022 thì Ngân hàng thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp “Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 218, tờ bản đồ số 69, diện tích 193,2 m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An”. Được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) số DH 069230 cho anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N ngày 19/08/2022 theo quy định của pháp luật.
Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chệnh lệch phải được trả cho anh H2, chị N.
Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán anh H2, chị N tiếp tục phải thực hiện.
Trường hợp anh H2, bà N trả đủ số tiền nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần X có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 069230 cho anh H2, chị N.
4. Án phí:
Buộc anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N phải chịu tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 58.513.290 đồng ( Năm mươi tám triệu, năm trăm mười ba nghìn, hai trăm chín mươi đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần X được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.286.874đ (Hai mươi tám triệu, hai trăm tám mươi sáu nghìn, tám trăm bảy mươi tư đồng) theo biên lai thu tiền số 0002351 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
5. Chi phí tố tụng:
Buộc anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N phải chịu tiền chi phí tố tụng là 8.000.000 đồng. Số tiền chi phí tố tụng 8.000.000đ (Tám triệu đồng) anh Trần Văn H2 và chị Đậu Thị N phải hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần X tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp.
6. Thi hành án, nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 03/2024/DS-KDTM
Số hiệu: | 03/2024/DS-KDTM |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Ngày ban hành: | 29/01/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về