Bản án về tranh chấp đòi tiền vay số 86/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 86/2024/DS-ST NGÀY 25/09/2024 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TIỀN VAY

Ngày 05/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2024/TLST-DS về việc “Tranh chấp đòi tiền vay”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213 /2024/QĐXXST-DS ngày 04/9/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 173/2024/QĐST-DS ngày 18/9/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Huỳnh Ngọc D, sinh năm: 1962. Trú tại: F T, quận C, tp .. Đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị H, sinh năm: 1993. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Mai Thị H1, sinh năm: 1982. Trú tại: A T, phường H, quận C, tp .. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 05/8/2022, bà Mai Thị H1 có liên hệ mượn ông D số tiền là 450.000.000 đồng và hẹn đến ngày 05/9/2022 sẽ đủ số tiền là 450.000.000 đồng. Lúc này bà H1 đang rất cần tiền để trả nợ và hứa hẹn nhiều lần sẽ trả tiền đúng hạn nên ông đã nói bà Lê Thị T là vợ ông chuyển tiền vào số tài khoản mà bà H1 chỉ định. Bà H1 nói bà T chuyển tiền vào tài khoản MB số tài khoản 8028xx có tên Nguyễn Thị Xuân N. Sau đó bà Mai Thị H1 có viết giấy mượn tiền cho ông và xác nhận đã nhận đủ tiền có sự làm chứng của bà N.

Tuy nhiên đến thời hạn thanh toán theo giấy mượn tiền là ngày 05/9/2022 bà Mai Thị H1 không thanh toán số tiền 450.000.000đồng như đã thỏa thuận cho ông. Sau đó, ông đã nhiều lần gọi điện, gởi tin nhắn zalo yêu cầu bà H1 trả tiền thì bà H1 có hứa hẹn nhưng không thực hiện, có tính né tránh rất nhiều lần (có hình ảnh zalo kèm theo).

Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền đề nghị buộc bà H1 thanh toán số tiền gốc là 450.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 06/9/2022 đến tháng 8/2024 là 86.250.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu thanh toán là 536.250.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Mai Thị H1 trình bày: bà thừa nhận việc bà ký vào giấy mượn tiền của ông Huỳnh Ngọc D và có hẹn đến 05/9/2022. Sau đó vợ ông D là bà T đã chuyển vào tài khoản MB số tài khoản 8028xx có tên Nguyễn Thị Xuân N số tiền 450.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà không đồng ý trả nợ cho ông D thì việc vay mượn trên xuất phát từ giao dịch giữa bà T và bà H1, ông D chỉ là người đứng tên trong Giấy mượn nợ. Bà T đã lửa bà nhiều tiền và bà đề nghị Tòa án xem xét, chuyển hồ sơ vụ án sang Công an để làm rõ trách nhiệm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bị đơn bà Mai Thị H1 có địa chỉ thường trú tại: A T, phường H, quận C, tp .. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Nguyên đơn khởi kiện đối với bà Mai Thị H1 để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 BLTTDS, HĐXX xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp đòi tiền vay”

[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc D buộc bà Mai Thị H1 phải trả số tiền 450.000.000 đồng Ông Huỳnh Ngọc D cho bà Mai Thị H1 vay 450.000.000 đồng và có Giấy mượn tiền do bà H1 ký vào ngày 05/9/2022, xác nhận đã nhận đủ tiền và có người làm chứng là bà Nguyễn Thị Xuân N. Việc chuyển tiền được ông D chuyển khoản qua số tài khoản 8028xx của Ngân hàng TMCP Q vào ngày 05/8/2022. Bà H1 cam kết đến ngày 05/9/2022 sẽ trả tiền cho ông D. Các tình tiết trên đã được các bên thừa nhận tại phiên tòa và phù hợp với tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp. Căn cứ khoản 2 Điều 275 BLDS, bà H1 đã xác lập nghĩa vụ phải thanh toán số tiền 450.000.000 đồng cho ông Huỳnh Ngọc D vào ngày 05/9/2022.

Theo đại diện ủy quyền của ông D trình bày thì sau ngày 05/9/2022, mặc dù ông D đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Bà H1 không đồng ý trả tiền vì bà cho rằng bà không có làm việc với ông D, việc vay mượn và giấy mượn tiền trên là xuất phát do bà T (vợ ông D) lừa bà để chiếm đoạt tiền của bà. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bà H1 tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, yêu cầu bà có trình bày và cung cấp tài liệu chứng minh cho trình bày của mình nhưng bà H1 không thực hiện. Tại phiên tòa, bà cũng không có bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của bà. Do đó, căn cứ Điều 91 BLTTDS, bà H1 phải chịu trách nhiệm đối với việc không xuất trình chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình.

Điều 278 BLDS quy định: thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận và bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn Khoản 1 Điều 280 BLDS quy định: Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

Từ các căn cứ trên, HĐXX có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc D, buộc bà Mai Thị H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông số tiền 450.000.000 đồng.

[4] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc D buộc bà Mai Thị H1 phải thanh toán số tiền lãi trên số tiền chậm trả với lãi suất 10%/năm Về nghĩa vụ chậm thanh toán: Căn cứ khoản 1 Điều 357 BLDS quy định: Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Theo thỏa thuận của các bên thì ngày chậm thanh toán được xác định bắt đầu từ ngày 06/9/2022. Do đó, yêu cầu của đại diện ủy quyền của ông D xác định thời gian tính lãi chậm thanh toán của bà H1 từ ngày 06/9/2022 tính đến tháng 8/2024 là có căn cứ chấp nhận.

Về lãi suất: căn cứ khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 BLDS xác định lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm. Do đó, yêu cầu áp dụng lãi suất của đại diện ủy quyền của ông D đối với số tiền chậm thanh toán có căn cứ chấp nhận.

Từ nhận định trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu buộc bà H1 thanh toán số tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 10%/năm là: 86.250.000 đồng.

Từ nhận định trên, HĐXX cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Huỳnh Ngọc D đối với bà Mai Thị H1, buộc bà Mai Thị H1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ cho ông Huỳnh Ngọc D là 536.250.000 đồng trong đó tiền gốc là 450.000.000 đồng và tiền lãi là 86.250.000 đồng theo lãi suất 10%/năm.

[5] Về án phí: Bà Mai Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.450.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 275, Điều 280, 357, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 91, khoản 1 Điều 147; Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc D đối với bà Mai Thị H1.

Buộc bà Mai Thị H1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ cho ông Huỳnh Ngọc D là 536.250.000 đồng trong đó tiền gốc là 450.000.000 đồng và tiền chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 86.250.000 đồng theo lãi suất 10%/năm.

2. Về án phí: Số tiền án phí dân sự sơ thẩm bà Mai Thị H1 phải chịu 25.450.000 đồng. Ông Huỳnh Ngọc D được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

3. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Kể từ ngày ông Huỳnh Ngọc D có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Mai Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bà Mai Thị H1 phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

25
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp đòi tiền vay số 86/2024/DS-ST

Số hiệu:86/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Cẩm Lệ - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;