TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, HÀ NAM
BẢN ÁN 120/2024/HS-ST NGÀY 25/09/2024 VỀ TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXX-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024; đối với:
1- Bị cáo Nguyễn Xuân T , sinh năm 1990; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ d ân phố Q , ph ườn g H , thị xã D , tỉnh Hà Nam ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị T1 ; vợ: Nguyễn Thị H ; con: Có 04 con (lớn SN 2009, nhỏ SN 2022); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/5/2024, đến ngày 06/6/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt.
2- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Q1 , sinh năm 1969 (đã chết). Đại diện theo pháp luật: Bà Đặng Thị Y, sinh năm 1973; anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chị Nguyễn Thị T 3 , sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.
3- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh N guy ễn Đ ức D , sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T , xã Y , thị xã D , tỉnh Hà Nam; vắng mặt
+ Anh Lê Xuân H1, sinh năm 1975; vắng mặt.
+ Anh Phạm Quang T 4 , sinh năm 1982; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Q , phường H , thị xã D , tỉnh Hà Nam
+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố T , phường H , thị xã D, t ỉnh Hà Nam; vắng mặt.
4- Người làm chứng: Ông Ph ạm V ăn Q2 , sinh năm 1954; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 4/2024, anh Lê Xuân H1, sinh năm 1975, cư trú tại tổ dân phố T, phường H , thị xã D , tỉnh Hà Nam nhận làm cai thầu xây dựng tại công trình nhà xưởng của anh Phạm Quang T4 , sinh năm 1982, ở tổ dân phố số C, phường H , thị xã D, tỉnh H à Nam.
Quá trình nhận thầu công trình, khoảng đầu tháng 5/2024, khi đào xong móng nhà, anh H1 thuê Ngu yễn Xu ân T đến công trình để đào bể phốt ở vị trí cách tường bên phải theo hướng từ cửa đi vào khoảng 70 - 80cm, cách nhà vệ sinh khoảng 1,5m. Sau khi đào bể phốt xong khoảng 2 - 3 ngày sau, T chở gạch đến xưởng nhà anh T4 thì thấy bể phốt đã xây xong nhưng chưa đậy nắp. Khoảng ngày 10/5/2024, T chở đá mạt đến thì bể phốt đã đậy nắp và nền nhà đã được san phẳng. Sáng ngày 26/5/2024, anh H1 gọi T chở bê tông đến để đổ nền cho gia đình anh T4. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26/5/2024, T điều khiển xe bốn bánh tự chế chở chuyến đầu tiên khoảng 1,5m3 bê tông từ thôn T , xã Y , thị xã D đến đổ xuống nền xưởng phía bên trái theo hướng từ ngoài đi vào để cho thợ san nền rồi tiếp điều khiển xe về thôn T chở chuyến bê tông thứ hai. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe bốn bánh tự chế chở khoảng 1,5m3 bê tông đến xưởng của gia đình Trung. Sau khi đổ khoảng 2/3 xe bê tông xuống nền cho thợ xây san nền thì anh H1 bảo T đổ 1/3 xe bê tông còn lại vào vị trí gần nhà vệ sinh. Lúc này, anh H1 đang đứng ở phía sau xe bê tông để chỉ vị trí cho T đổ bê tông và ông Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1969 trú tại tổ dân phố Q, phường H, thị xã D là thợ san nền đang đứng phía bên trái xe bê tông và đứng sát tường. Đồng thời, anh H1 nhắc T "Cẩn thận nắp bể phốt" nhưng do tiếng xe ồn nên T không nghe thấy anh H1 nói. Mặc dù, T biết rõ vị trí của bể phốt, nhận thức được việc lùi xe qua nắp bể phốt sẽ gây sập nắp bể, nhưng do lúc đó T không tập trung và không nhớ được ở phía dưới nền nhà có bể phốt nên vẫn tiếp tục điều khiển xe để lùi qua nắp bể phốt. Do trọng lượng của xe bê tông lớn, khoảng hơn 01 tấn nên khi T điều khiển xe bốn bánh tự chế lùi đã để bánh xe phía sau bên trái lăn trên nắp bể phốt, làm sập nắp, bánh xe thụt xuống bể làm xe bị đổ nghiêng sang trái, thành phía sau bên trái xe đã đè ép ngực và tay phải ông Q1 vào tường. T cùng anh H1 và những người thợ xây ở đó đã gọi một xe tự chế khác đến kéo xe bê tông này ra rồi đưa ông Q1 đi cấp cứu tại Bệnh vi ện Đa khoa tỉnh H nhưng ông Q1 đã tử vong ngay sau đó.
- Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe bốn bánh tự chế, phía sau có thùng chở bê tông.
- Khám nghiệm hiện trường: Công trình nhà đang xây dựng quay hướng Nam, mặt sàn có kích thước (19x8,5)m, phía Bắc, Đ , T5 được xây tường bao dày 20cm, hướng Nam làm toàn bộ bằng cửa sát có kích thước (7,5x4,1)m. Mái nhà được lợp tôn. Trên sàn nhà đang đổ bê tông ở khu vực giáp tường phía Tây và phía Bắc, bê tổng được đổ san nền bằng phẳng, còn ướt. Khu vực giáp phía Đông được trải bạt để chuẩn bị đổ bê tông có kích thước (15x4,5)m. Góc Đông Bắc xây nhà vệ sinh và kệ bếp. Bể phốt của nhà vệ sinh được đào ở vị trí gần khu vực phía Nam của kệ bếp, cách mép phía Nam của chân kệ bếp là 0,5m, cạnh bể phốt phía Đông cách tường phía Đông là 0,5m. bể phốt có nắp hình chữ nhật kích thước (1,7x1,3)m, bể sâu 0,9m. Nắp bể phốt bị sập, rách bạt phía trên tạo ra lỗ hổng kích thước (1,4x1,3)m, còn lại 01 phần nắp bể phốt ở mép phái Nam của bể. Tấm nắp bể phốt được làm bằng bê tông bên trong có lõi thắp, dày 4cm. Trên tường phía Đông có đám vết mài sượt xi măng liên tục trên diện kích thước (0,7x0,1)m, điểm đều vết cách đất là 0,7m, điểm cuối vết cách đất là 0,5m, điểm đầu vết cách mép phía Nam kệ bếp là 1,15m.
- Khám nghiệm phương tiện: Chiếc xe N gu yễn Xu ân T điều khiển là xe tự chế, loại xe 02 trục, trục trước và trục sau đều có 02 bánh, phía sau có bồn chứa bê tông hình trụ. Mặt ngoài phía sau bên trái trụ chứa bê tông có vết mài tượt hướng từ sau về trước, kích thước (30x0,5)cm, điểm đầu vết cách đầu bên trái ống ty kéo tay xả 5cm, điểm thấp nhất cách đất 134cm. Mặt ngoài dây dẫn dầu ống ty có vết mài trượt trên diện kích thước (6x6)cm, điểm thấp nhất cách đất là 110cm. Mặt ngoài bên trái giáp mép phía trên bồn chứa bê tông có đám vết trượt hướng từ sau về trước trên diện kích thước (28x15)cm, điểm gần nhất cách chân ty van xả 110cm, điểm thấp nhất cách đất 182cm. Kiểm tra trong bồn không còn bê tông.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 22/KLGĐTT-TTGĐYK&PY ngày 20/6/2024 của Trung t âm gi ám đị nh y kho a và ph áp y t ỉnh H kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Ngu yễn V ăn Q1 do mất máu cấp và suy hô hấp cấp hậu quả của chấn thương ngực, bụng kín (vỡ gan, rách phổi);
Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số 01/KLMBH-TTGĐYK&PY ngày 11/6/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H kết luận:
+ Da: rách da, đụng dập, chảy máu.
+ Cơ: đụng dập, chảy máu.
+ Phổi: đụng dập, chảy máu.
+ Tim: Thoái hóa, thiểu dưỡng.
+ Lách: sung huyết.
Tại Bản kết luận giám định độc chất số 350/466/2024/KLGDĐC-PYQG ngày 03/6/2024 của V kết luận: Mẫu phủ tạng và máu: Không tìm thấy các chất độc.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Xuân T và gia đình đã thống nhất bồi thường cho gia đình ông N guy ễn V ăn Q1 với số tiền 120.000.000 đồng.
Cáo trạng số 119/CT-VKS-DT ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Ngu yễn Xu ân T về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt N guy ễn Xu ân T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Xuân T xin giảm nhẹ và không tranh luận gì; Người đại diện của bị hại không tranh luận gì và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm, ban hành các văn bản tố tụng đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/5/2024, tại công trình nhà xưởng đang thi công của gia đình anh Ph ạm Q uang T4 , ở tổ dân phố số C, ph ường H , t hị xã D , mặc dù trước đó biết dưới nền nhà có 01 bể phốt đậy nắp bê tông nhưng khi được ông Lê Xuân H1 yêu cầu chở bê tông đổ vào khu vực gần nhà vệ sinh, phía bên trong bể phốt để san nền, do cẩu thả, không chú ý quan sát nên N gu yễn Xu ân T đã điều khiển xe bốn bánh tự chế chở bê tông có trọng tải hơn 01 tấn lùi bánh xe phía sau bên trái lăn qua nắp bể phốt làm sập nắp, bánh xe thụt xuống bể, xe bị đổ nghiêng sang trái, thành phía sau bên trái xe đã đè ép ngực và tay phải ông Ng uy ễn V ăn Q 1 đang đứng ở phía bên trái xe vào tường làm ông Q1 bị chấn thương ngực, bụng kín (vỡ gan, rách phổi) dẫn đến tử vong ngay sau đó.
Hành vi nêu trên của N guy ễn Xu ân T gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tổng thể các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ đó là quyền nhân thân, tước đi quyền sống của con người, hành vi của bị cáo vô ý làm chết 01 người trong thời gian đang thi công nhà xưởng nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Vô ý làm chết người" quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự (BLHS). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt;
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo cùng gia đình đã khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường theo thỏa thuận với gia đình bị hại và được đại diện của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Từ những nhận định trên cho thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa thành công dân tốt, phù hợp với quan điểm xử lý bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên không đặt ra xem xét.
[6] Đối với các hành vi khác:
+ Đối với anh N guy ễn Đ ức D là người chủ chiếc xe bốn bánh tự chế và thuê T chở bê tông lên đổ tại công trình nhà anh Ph ạm V ăn T 6 làm ông Nguyễn Văn Q1 bị tử vong. Quá trình điều tra xác định anh D không có lỗi trong việc T lùi xe làm chết ông Nguyễn Văn Q1 . Do đó, Cơ quan CSĐT Cô ng an thị xã D không có căn cứ để xử lý đối với anh D là phù hợp quy định của pháp luật.
+ Đối với ông Lê Xuân H1 là người gọi T chở bê tông đến đổ nền nhà cho gia đình anh Phạm Văn T 6 và chỉ vị trí đổ bê tông cho T. Tuy nhiên khi T lùi xe bốn bánh chở bê tông thì ông H1 đã nói với T “Cẩn thẩn nắp bể phốt”. Ông H1 không có lỗi trong việc T lùi xe làm chết ông Ngu yễn V ăn Q1 nên cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xử lý đối với ông H1 là phù hợp với quy định của pháp luật. [7] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với 01 xe bốn bánh loại xe tự chế phục vụ thi công tại công trường mà bị cáo T điều khiển gây tai nạn làm chết bị hại. Quá trình đấu tranh xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Ng uy ễn Đức D , anh D không có lỗi trong hành vi phạm tội của bị cáo, nên HĐXX cần trả lại cho anh D chiếc xe trên là phù hợp quy định của pháp luật.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo N gu yễn X uân T phạm tội “Vô ý làm chết người”.
Xử phạt: Nguyễn Xuân T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho Ủy ban nhân dân phường H , thị xã D , tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Đ ức D:
01 xe bốn bánh tự chế, phía sau có thùng hình tròn dính bê tông khô. (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Cô ng an thị xã D và Chi cục thi hành án thị xã Duy Tiên ngày 13/9/2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, người đại diện của bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tội vô ý làm chết người số 120/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 120/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Duy Tiên - Hà Nam |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 25/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về