Bản án về tội trộm cắp tài sản số 227/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KH, TỈNH KH

BẢN ÁN 227/2021/HS-ST NGÀY 20/12/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố KH, tỉnh KH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 247/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

LÊ NGUYÊN K sinh ngày 21 tháng 3 năm 1989 tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 02 Lê Trung Kiên, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: không có chỗ ở nhất định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh Kỳ (sinh năm 1953) và bà Nguyễn Thị Yên (chết); có vợ là Huỳnh Thị Thanh Phượng (sinh năm 1991 - đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010; tiền án: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 23/2008/HSPT ngày 14/3/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/11/2009; tại bản án hình sự sơ thẩm số 90/2010/HSST ngày 23/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã xử phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/01/2014; tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2015/HSST ngày 28/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2015/HSST ngày 17/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp với phần hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2015/HSST ngày 28/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên; buộc LÊ NGUYÊN K phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù; chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/02/2020; tiền sự: không; nhân thân: Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng số 945/QĐ-UB ngày 17/6/2003 của Ủy ban nhân dân thị xã Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên với thời hạn 24 (hai mươi bốn) tháng về hành vi trộm cắp tài sản; chấp hành xong ngày 18/6/2005; ngày 06/9/2005, Công an phường 6 thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 09/9/2005, Công an phường 9 thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2006/HSST ngày 10/5/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2007; bị tạm giữ từ ngày 10/3/2021; bị tạm giam từ ngày 19/3/2021; có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Trương Nhật Đ sinh ngày 28/02/1995; nơi cư trú: Số 84 Phạm Hùng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 202 Lê Hồng Phong, phường Phước H, thành phố KH, tỉnh KH; vắng mặt.

3. Ông Lê KN sinh ngày 30/4/1984; nơi cư trú: Số 161/4A đường 2/4, phường Vĩnh Phước, thành phố KH, tỉnh KH; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trần Thị Thu H sinh ngày 18/01/1976; nơi cư trú: Tổ 8 Lư Cấm, phường Ngọc Hiệp, thành phố KH, tỉnh KH; vắng mặt.

2. Ông Võ Trần H sinh năm 1957; nơi cư trú: Số 24 Hai Bà Trưng, phường Vạn Thạnh, thành phố KH, tỉnh KH; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07/3/2021, LÊ NGUYÊN K điều khiển xe máy hiệu Vision màu trắng, mang biển kiểm soát 79N2-771.57 đi đến cửa hàng bán laptop Tấn Khang tại địa chỉ số 821 đường 2/4, phường Vĩnh Phước, thành phố KH do anh Lê KNhựt làm chủ để hỏi mua bộ phận nạp điện (cục sạc) máy tính xách tay (laptop). Khi đến nơi, Kđi vào hỏi mua cục sạc laptop; lợi dụng lúc anh Nhựt vừa quay mặt vào quầy hàng để tìm cục sạc thì Kđi tới lén lút lấy trộm một chiếc laptop Pro màu trắng bạc để trên bàn và quay lại bỏ vào túi mang theo. Sau đó, Ktiếp tục mua cục sạc của anh Nhựt rồi bỏ đi. Kmang tài sản vừa trộm cắp được về chỗ ở tại tổ 8 Lư Cấm, phường Ngọc Hiệp, thành phố KH để cất giấu.

Sau khi anh Nhựt phát hiện bị mất trộm tài sản thì đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc, đồng thời giao một đoạn video do camera an ninh của cửa hàng Tấn Khang ghi lại quá trình trộm cắp tài sản của Kvào ngày 07/3/2021 để phục vụ công tác điều tra.

Vào ngày 09/3/2021, Knhờ bà Trần Thị Thu H đăng lên mạng internet để bán chiếc laptop trên. Lúc này do bà H không biết đây là tài sản do K trộm cắp mà có nên đã đăng tải thông tin bán laptop. Khi bà H biết chiếc laptop Knhờ bán là tài sản trộm cắp ở cửa hàng Tấn Khang thì đã yêu cầu Ktrả lai và điều khiển xe máy hiệu Vision màu trắng, mang biển kiểm soát 79N2-771.57 chở K đi trả lại tài sản. Khi đến trước cửa hàng Tấn Khang thì Kbị cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ.

Quá trình điều tra xác định, ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên, Kcòn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn thành phố KH; cụ thể như sau:

Vụ 1: Vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 18/12/2020, LÊ NGUYÊN K điều khiển xe máy hiệu Vision màu trắng, mang biển kiểm soát 79N2-771.57 đi đến cửa hàng bán đàn tại địa chỉ số 202 đường Lê Hồng Phong, phường Phước H, thành phố KH do chị Nguyễn Thị Thu Hoài làm chủ. Khi đến nơi, Knhìn vào thấy không có ai, cửa mở nên Kđã đi vào trong cửa hàng thì thấy một thùng giấy bên trong đựng 05 cây đàn ghita bằng gỗ; Klấy dao xếp trong người cắt phá dây buộc và lấy trộm 02 cây đàn ghita cùng 02 túi đựng đàn kèm theo. Sau khi trộm cắp được 02 cây đàn ghita trên, Kđã mang về nơi ở tại tổ 8 Lư Cấm, phường Ngọc Hiệp, thành phố KH và nói với bà Trần Thị Thu H là đàn mới mua không thích nên nhờ bà H chụp ảnh đăng lên mạng internet để bán, tuy nhiên không bán được. Sau đó, Kđã mang một cây đàn ghita đi bán tại cửa hàng bán đàn của ông Võ Trần Huân tại số 24 đường Hai Bà Trưng, phường Vạn Thạnh, thành phố KH với giá 600.000 đồng; số tiền này Kđã sử dụng hết. Đối với cây đàn còn lại, Ktiếp tục nhờ bà H bán. Sau khi Kbị bắt, bà H nghi ngờ cây đàn của Kđưa nhờ bán là tài sản trộm cắp nên đã chủ động mang đến nộp cho Cơ quan điều tra.

Vụ 2: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/3/2021, LÊ NGUYÊN K điều khiển xe máy hiệu Vision màu trắng, mang biển kiểm soát 79N2-771.57 đi đến trước cửa hàng di động Gốc tại địa chỉ số 91B đường Hồng Bàng, phường Tân Lập, thành phố KH do anh Trương Nhật Đ làm chủ. Khi đến nơi, Kthấy cửa mở không có ai trông coi nên Kđã dừng xe ở ngoài đi vào trong cửa hàng; Kquan sát thấy có một chiếc laptop hiệu Macbook pro màu xám để trên kệ phía sau quầy bán hàng; Kquay ra để dép bên ngoài rồi đi vào trèo qua quầy hàng lấy trộm chiếc laptop hiệu Macbook pro màu xám và bỏ đi. Sau khi lấy trộm được chiếc laptop trên thì Kmang đi bán tại khu vực đường Lê Hồng Phong nhưng không có ai đồng ý mua nên Kđã mang về nơi ở tại tổ 8 Lư Cấm, phường Ngọc Hiệp, thành phố KH để cất giấu.

Tại bản kết luận định giá số 96/KL-HĐĐGTS ngày 17/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố KH kết luận: 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook pro (13 inch, 2017, two Thunderbolt 3pots) màu trắng trị giá 19.000.000 đồng; 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook pro, 13,3 inch, 2010 trị giá 3.500.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá số 188/KL-HĐĐGTS ngày 25/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố KH kết luận: 02 (hai) cây đàn ghita (đàn Việt) gỗ, màu vàng nhạt, mặt đàn vân gỗ thông trị giá 3.600.000 đồng; 02 (hai) túi đựng đàn, màu đen, chất liệu dạng da trị giá 200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản LÊ NGUYÊN K trộm cắp được là 26.300.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 208/CT-VKSNT ngày 30/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố KH, tỉnh KH đã truy tố bị cáo LÊ NGUYÊN K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố KH, tỉnh KH giữ nguyên nội dung cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo LÊ NGUYÊN K; đề nghị xử phạt bị cáo LÊ NGUYÊN K từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về vấn đề bồi thường đối với bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, các bị hại là anh Trương Nhật Đ, bà Nguyễn Thị Thu Hoài và ông Lê KNhựt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Trần Thị Thu H và ông Võ Trần Huân được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; xét thấy sự vắng mặt của cácbị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố KH, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo LÊ NGUYÊN K khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có trong hồ sơ vụ án; biên bản trích xuất dữ liệu điện tử (hình ảnh camera); vật chứng vụ án đã thu giữ; cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đã thể hiện: Từ khoảng tháng 12/2020 đến tháng 3/2021, LÊ NGUYÊN K đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố KH; cụ thể: Vụ 1; Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 18/12/2020, tại cửa hàng bán đàn tại địa chỉ số 202 đường Lê Hồng Phong, phường Phước H, thành phố KH, LÊ NGUYÊN K đã trộm cắp 02 (hai) cây đàn ghi ta (đàn Việt) gỗ, màu vàng nhạt, mặt đàn gỗ thông trị giá 3.600.000 đồng; 02 (hai) túi đựng đàn, màu đen, chất liệu dạng da trị giá 200.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thu Hoài; Vụ 2: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/3/2021, tại cửa hàng di động Gốc tại địa chỉ số 91B đường Hồng Bàng, phường Tân Lập, thành phố KH, LÊ NGUYÊN K đã trộm cắp 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook pro (13,3 inch, 2010) trị giá 3.500.000 đồng của anh Trương Nhật Đ; Vụ 3: Khoảng 11 giờ ô phút ngày 07/3/2021, tại cửa hàng bán laptop Tấn Khang tại địa chỉ số 821 đường 2/4, phường Vĩnh Phước, thành phố KH, LÊ NGUYÊN K đã trộm cắp 01 (một) máy tính xách tay hiệu Macbook pro (13 inch, 2017, two Thunderbolt 3pots) màu trắng trị giá 19.000.000 đồng của ông Lê KNhựt; tổng giá trị tài sản LÊ NGUYÊN K trộm cắp được là 26.300.000 đồng; bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý; do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố KH, tỉnh KH đã truy tố bị cáo LÊ NGUYÊN K về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo LÊ NGUYÊN K là nghiêm trọng; đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân, cũng như gây mất trật tự trị an tại địa phương; bị cáo phạm tội trong trường hợp “tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bên cạnh đó, bị cáo còn phạm tội trong trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; do đó, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho các bị hại; nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại là anh Trương Nhật Đ, bà Nguyễn Thị Thu Hoài và ông Lê KNhựt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Trần Thị Thu H và ông Võ Trần Huân vắng mặt; nhưng căn cứ vào các biên bản lấy lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các biên bản về việc trả lại tài sản có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về vấn đề bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ tài sản do bị cáo chiếm đoạt cho các chủ sở hữu hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo LÊ NGUYÊN K, Xử phạt LÊ NGUYÊN K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2021.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

141
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 227/2021/HS-ST

Số hiệu:227/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/12/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;