Bản án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có số 389/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 389/2023/HS-PT NGÀY 16/11/2023 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Trong ngày 16/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 325/2023/HS-PT ngày 02/10/2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Danh T theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4817/2023/QĐXXPT-HS ngày 17/10/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 14956/2023/HSST-QĐ ngày 07/10/2023 do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 170/2023/HS-ST ngày 07/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1985 tại tỉnh T; nơi đăng ký thường trú: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh T; nơi cư trú: số M đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên bảo vệ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị B1; chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt ngày 31/5/2022;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Danh T; sinh năm 1965 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã T, huyện M, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: số H đường T, Tổ D, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: kinh doanh vải; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh K (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; vợ tên Nguyễn Thị B2, có 5 con, con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 2009;

Tiền án, tiền sự: không;

Cấm đi khỏi nơi cư trú: 12/5/2022;

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B: Ông Phan Văn T1 và ông Huỳnh Trung H; cùng là luật sư của Văn phòng L1; Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt;

Người liên quan đến kháng cáo:

Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn S1; địa chỉ trụ sở: E đường A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Anh T2; sinh năm 1996; nơi cư trú: A Đường số H, khu dân cư N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 31/8/2022); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn B là nhân viên của Công ty B4 (sau đây gọi tắt là Công ty bảo vệ). Từ tháng 5/2020, theo hợp đồng ký kết giữa Công ty bảo vệ với Công ty TNHH S1 (sau đây gọi tắt là Công ty S1), B được Công ty bảo vệ phân công trực bảo vệ tại kho hàng của Công ty S1, tọa lạc tại địa chỉ số S đường A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; thời gian làm việc hàng ngày là từ 18 giờ 30 phút đến 06 giờ 30 phút ngày hôm sau; nhiệm vụ là giữ an toàn cho kho.

Khoảng đầu tháng 4/2021, khi được Công ty bảo vệ điều động trực bảo vệ tăng cường cho Công ty Y tại Quận A, B gặp và quen biết với Nguyễn Danh T thu mua vải vụn. Do có ý định trộm cắp vải của Công ty S1, B nói với T là có nguồn hàng là vải cây do người quen đem từ cảng về muốn bán. Sau khi trao đổi với nhau, T đồng ý mua với giá 500.000đ/cây, không phân biệt loại vải.

Từ tháng 6/2021 đến tháng 10/2021, B đã nhiều lần trộm vải tại kho hàng của Công ty S1 do Bừng bảo vệ và bán cho T, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng tháng 5, tháng 6 năm 2021, B báo cho T đến kho hàng Công ty S1 để mua bán vải. Khoảng 05 giờ sáng, T đi cùng một tài xế xe ba gác (không rõ lai lịch) đến cửa sau Kho hàng của Công ty S1. Khi đến nơi thì gặp B. Bừng bấm mở cửa cuốn, sau mép cửa cuốn phía trong đã để sẵn khoảng 09-10 cây vải cuộn thành phẩm, còn nguyên bao bì, nhãn mác của Công ty S1. Sau đó, B cùng T và tài xế khiêng vải lên xe và điều khiển chở về nhà của T tại địa chỉ 22/10/1 đường T, phường T, Quận A.

Sáng hôm sau, T hẹn B ra ngoài và trả số tiền mặt khoảng 4.500.000đ - 5.000.000đ.

Lần thứ hai: Rạng sáng ngày 19/7/2021, sau khi được B thông báo đến mua vải, T thuê tài xế (không nhớ rõ lai lịch, loại xe) và hướng dẫn cho tài xế đến Kho hàng Công ty S1 chở 22 cây vải cuộn thành phẩm về cho T. Đến 11 giờ 20 phút ngày 19/7/2021, T thanh toán tiền cho B bằng cách chuyển 11.000.000đ từ tài khoản ngân hàng A số 15534087 của T đến tài khoản ACB số 9077397 của Nguyễn Văn B, ghi nội dung “NGUYEN DANH TUAN CK, IB NGUYEN DANH TUAN TUAN TRA”.

Lần thứ ba: Đêm rạng sáng ngày 25/7/2021, sau khi được B thông báo đến mua vải, T thuê tài xế (không nhớ rõ lai lịch, loại xe) và hướng dẫn cho tài xế đến kho hàng Công ty S1 chở 22 cây vải cuộn thành phẩm về nhà T. Đến khoảng 15 giờ 58 phút ngày 25/7/2021, T thanh toán tiền cho B bằng cách nhờ bạn ở cùng xóm là ông Nguyễn Văn L sử dụng tài khoản 8286547 của ông L mở tại Ngân hàng ACB chuyển 10.500.000đ đến tài khoản của B (đã đề cập), nội dung chuyển khoản ghi “NGUYEN VĂN LUU TUAN TRA TIEN HANG”.

Lần thứ tư: Khoảng cuối tháng 7 đầu tháng 8/2021, sau khi được B thông báo đến mua vải, T thuê tài xế (không nhớ rõ lai lịch, loại xe) và hướng dẫn cho tài xế đến kho hàng của Công ty S1 chở 22 cây vải cuộn thành phẩm về cho T. Sau đó, T gặp B trả 11.000.000đ cho B.

Lần thứ năm: Rạng sáng ngày 03/10/2021, cũng tương tự như các lần trước, T thuê xe tải của ông Đỗ Văn D đến kho hàng của Công ty S1 để nhận 42 cuộn vải chở về nhà T. T cho anh Dân số điện thoại của B để liên lạc.

Sau đó, T bảo ông D đến kho hàng của Công ty S1 gặp B để nhận 42 cuộn vải. Sau đó, ông D điều khiển xe tải mang biển số 51D-218.61 đến kho hàng của Công ty S1 gặp B3 và nhận 42 cây vải chở về giao cho T. Đối với số vải này, T phải trả cho B là 21.000.000đ nhưng T chưa trả thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và tạm giữ.

Sau khi mua số vải mà B trộm cắp, T bán lại cho ông Nguyễn Thanh Q1 32 cây với giá; còn 63 cây thì vẫn còn ở nhà của T.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu hồi 95 cây vải đã nêu và giao trả lại cho Công ty S1.

Các cây vải thu giữ vừa đề cập là vải cuộn thành phẩm của Công ty S1, có mã hàng, bao bì và dán nhãn SANSIN TEXTILE.

Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS ngày 14/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B xác định được 95 cây vải thu giữ được có tổng trị giá là 327.991.306đ.

Trong quá trình điều tra, T khai rằng: Khi gặp B, T được B giới thiệu là hàng hóa do người quen đem từ cảng về, cất giữ ở kho Công ty S1 do B làm nhân viên bảo vệ. Tuy nhiên, qua quá trình mua bán hàng hóa là vải cuộn thành phẩm ngay tại kho hàng Công ty S1, còn nguyên bao bì, nhãn mác, không có hóa đơn xuất nhập kho, thời gian mua bán diễn ra vào ban đêm, vắng vẻ, giá mua bán đồng giá 500.000đ cho tất cả các loại vải nên T biết hàng hóa là do B trộm cắp mà có, nhưng không biết rõ là trộm ở đâu. T không bàn bạc cũng như hứa hẹn trước với B về việc sẽ tiêu thụ tài sản do B trộm cắp. Sau khi mua vải của B, T đem về nhà cất giấu và đem bán cho Nguyễn Thanh Q1 32 cây vải với số tiền khoảng 41.000.000đ, bán cho người đàn ông tên H (không rõ lai lịch) ở quận T 22 cây vải với giá 22.000.000đ. Tổng số tiền T đã trả cho B là 37.500.000đ, T bán vải được 71.920.000đ, số tiền mà T thu lợi bất chính là 25.500.000đ.

Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn thu giữ của các bị cáo một số tài sản, vật liên quan đến tội phạm như sau:

Thu giữ của B:

-01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20S (B khai sử dụng để liên lạc với T để bán vải);

-5.396.500đ.

-10.000.000đ do B tự nguyện nộp lại. Thu giữ của T:

-01 (một) điện thoại di động hiệu VS Mart (T sử dụng để liên lạc với B để mua vải).

-47.500.000đ (T khai có 25.500.000đ là tiền thu lợi bất chính từ việc bán vải, 22.000.000đ là tiền T nộp để khắc phục thiệt hại cho Công ty S1.

-01 (một) thiết bị lưu trữ chứa 06 đoạn video clip ghi nhận hình ảnh liên quan đến nội dung vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại cho biết đã nhận lại 95 cây vải bị mất, không yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 31/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự); truy tố Nguyễn Danh T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm a khoản 3 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Bị cáo Nguyễn Văn B khai: Bừng không rủ rê, bàn bạc với T để trộm cắp tài sản của Công ty S1; B chỉ bán tài sản cho T sau khi đã trộm cắp được; B chỉ bán cho bị cáo T 95 cây vải các loại;

Bị cáo Nguyễn Danh T khai giống như nội dung mà bị cáo B khai.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 170/2023/HS-ST ngày 07/8/2023 và Thông báo sửa chữa, bổ sung 209/2023/TB-TA ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

điểm b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Xử phạt Nguyễn Văn B 10 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

điểm b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Xử phạt Nguyễn Danh T 07 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Ngoài ra, bản án còn áp dụng các biện pháp tư pháp, tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo và các đương sự.

Ngày 09/8/2023, bị cáo B có đơn kháng cáo với nội dung như sau: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; giúp cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án. Do vậy, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có điều kiến sớm hòa nhập với xã hội.

Ngày 17/8/2023, bị cáo T có đơn kháng cáo với nội dung như sau: Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm không khách quan khi nhận định bị cáo biết số vải bị cáo mua của B là do trộm cắp mà có. Kết luận định giá của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B kết luận 95 cây vải có trị giá 327.991.306đ là không phù hợp với trị giá thực tế. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, làm rõ những nội dung đã nêu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết kháng nghị như sau:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định bị cáo B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” , còn bị cáo T đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Bị cáo T đã mua vải do bị cáo B bán thấp hơn nhiều lần so với giá thị trường, mua bán thực hiện vào rạng sáng. Do vậy, việc T khai không biết tài sản trộm cắp là không có căn cứ. Mặt khác, theo lời khai của B thì sau khi bán vải cho T lần thứ nhất, B có nói cho T biết là hàng phạm pháp nhưng T có nghe hay không thì B không rõ. Việc định giá của Hội đồng định giá là đúng quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T.

Bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, trong quá trình điều tra và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo đã nộp lại toàn bộ tiền thu lợi bất chính. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo B, giảm hình phạt đối với bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

Bị cáo T bào chữa như sau: Khi bán vải cho T, B nói rằng là hàng tồn kho. T không biết là hàng trộm cắp, T không nghe B nói là hàng phạm pháp.

Các luật sư đồng tình với đề nghị của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, kết quả định giá và các tài liệu chứng cứ thu thập được, có căn cứ để xác định rằng:

Vì động cơ vụ lợi, bị cáo Nguyễn Văn B đã 05 lần có hành vi lén lút chiếm đoạt 95 cây (cuộn) vải polyester của Công ty trách nhiệm hữu hạn S1. Bị cáo B đã bán số vải trộm cắp được cho bị cáo Nguyễn Danh T với giá 500.000đ/cuộn. T biết rõ tài sản do B chiếm đoạt mà có nhưng vẫn mua. Bị cáo T bán lại cho ông Nguyễn Thanh Q1 32 cây vải với giá 41.000.000đ, còn lại 63 cây Bừng cất giữ tại nhà của B. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 95 cây vải đã đề cập. Theo kết quả định giá, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 327.991.306đ.

Trong quá trình điều tra, có lúc bị cáo B khai rằng bị cáo chiếm đoạt của Công ty S1 tổng cộng 117 cây vải, ngoài 32 cây vải mà bị cáo bán cho ông Q1, bị cáo còn bán cho một người tên H không rõ lai lịch 22 cây. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có cơ sở vững chắc để xác định số lượng vải mà bị cáo chiếm đoạt là 117 cây. Do vậy, cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm truy cứu trách nhiệm sự Bừng về hành vi chiếm đoạt 95 cây vải là có căn cứ, đúng pháp luật.

Các bị cáo đều là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là sai trái nhưng vì động cơ vụ lợi, vẫn cố ý vi phạm.

Đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm a khoản 3 Điều 323 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án các bị cáo theo tội danh, điều luật như đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2].Ông Nguyễn Thanh Q1 là người đã mua của bị cáo T 32 cây vải, ông Đỗ Văn D là người được bị cáo T thuê chở 42 cây vải trộm cắp vào ngày 03/10/2021; ông Nguyễn Văn L là người được bị cáo T nhờ chuyển 10.500.000đ đến tài khoản của bị cáo B vào ngày 25/7/2021để thanh toán tiền mua vải. Tuy nhiên, không có căn cứ để xác định những người này biết rõ tài sản là do phạm tội mà có. Do vậy, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này.

[3].Về nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả bị hại; hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo là lao động chính trong gia đình trực tiếp nuôi mẹ già; gia đình của bị cáo là gia đình có công cách mạng, bác ruột của bị cáo là liệt sỹ Nguyễn Văn S, cha trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ.

Bị cáo phạm tội 05 lần nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” đối với các bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, việc xác định các bị cáo “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là chưa đủ căn cứ vững chắc, bởi lẽ chưa có cơ sở để xác định các bị cáo lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính – đây là một trong những yếu tố bắt buộc phải có để xác định dấu hiệu “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tự nguyện nộp lại 10.000.000đ tiền thu lợi bất chính. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, vào ngày 06/11/2023, gia đình bị cáo đã nộp số tiền thu lợi bất chính còn lại là 27.500.000đ, đây là tình tiết mới nên cũng cần được xem xét là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là có phần nặng so với tính chất mức độ vi phạm, hậu quả do tội phạm gây ra, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[4].Về nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Danh T:

Về việc bị cáo cho rằng cơ quan tố tụng đã không khách quan khi nhận định bị cáo biết số vải mua của B là do trộm cắp mà có: T đã nhiều lần mua vải do B trộm cắp mà có; việc mua bán đều được thực hiện vào thời điểm rạng sáng, vắng người; hơn nữa, T biết B làm bảo vệ nên không thể có vải nguyên cây để bán, các cây vải mà T mua đều là vải cuộn thành phẩm, còn nguyên bao bì, nhãn mác của Công ty S1 là Công ty do B làm bảo vệ; giá mua thì thấp hơn gần 8 lần so với giá mà Hội đồng định giá đã kết luận. Căn cứ vào các yếu tố đã nêu, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo biết tài sản mua của B là tài sản trộm cắp. Nhận định này có căn cứ, đảm bảo tính khách quan. Mặt khác, trong buổi làm việc với Công an phường B, quận B vào ngày 04/10/2021, bị cáo cũng thừa nhận rằng thấy giá thu mua quá rẻ so với giá thị trường, thường giao dịch lấy hàng vào lúc rạng sáng nên bị cáo nghĩ rằng hàng do B lấy trộm của Công ty để bán cho bị cáo (bl.349).

Về việc bị cáo cho rằng Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B kết luận 95 cây vải có trị giá 327.991.306đ là không phù hợp với trị giá thực tế: Việc định giá tài sản đã được Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thực hiện việc định giá đúng thẩm quyền, đúng trình tự theo quy định. Bị cáo cho rằng việc định giá tài sản không phù hợp với trị giá thực tế nhưng không nêu ra được căn cứ hoặc lý do xác đáng.

Bị cáo T, tự nguyện nộp lại 25.500.000đ tiền thu lợi bất chính và 22.000.000đ để khắc phục hậu quả. Do vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tương tự như đối với bị cáo B, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là chưa đủ căn cứ, bởi lẽ chưa có cơ sở để xác định các bị cáo lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính. Mặc dù có sai sót như đã nêu nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với T là thỏa đáng.

Vì các lý do vừa nêu, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo T. Cần giữ nguyên tội danh và mức phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[5].Về án phí:

Căn cứ theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, án phí hình sự phúc thẩm được xác định như sau: Bị cáo B không phải chịu án phí; bị cáo T phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Danh T, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B, 1.Sửa bản án sơ thẩm số 170/2023/HS-ST ngày 07/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ 31/5/2022.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt Nguyễn Danh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

2.Bị cáo Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Danh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm;

3.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

89
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có số 389/2023/HS-PT

Số hiệu:389/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/11/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;