Bản án về tội cướp giật tài sản số 04/2021/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 

BẢN ÁN 04/2021/HS-ST NGÀY 08/01/2021 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

 Ngày 08/1/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 228/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn X, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn MT, xã CL, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H và bà Đào Thị L; Vợ Vương Thị B, chưa có con; gia đình có 03 chị em bị cáo là con thứ 3; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt khẩn cấp và tạm giam từ 31/7/2020 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Danh chỉ bản số 000000416 lập ngày 01/8/2020 của Công an huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Cháu Ngô Minh T, sinh 21/10/2003; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Tr, xã VH, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của cháu T: Ông Ngô Minh T1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979; Cùng cư trú tại:Thôn Tr, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn TB, xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Bà Đình Thị H2, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn Tr, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

4. Chị Phạm Thị H3, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn NV, xã DT, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

5. Chị Trần Thị O, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn DN, xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Vương Thị B, sinh năm 2000; Nơi cư trú: MT, xã CL, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn MT, xã CL, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

3. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn Tr, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

4. Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn NT, xã CL, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

5. Anh Nguyễn Doãn H4, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn KG, xã TT, huyện ML, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

6. Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn KG, xã TT, huyện ML, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Bị cáo Nguyễn Văn X do không chịu làm ăn lương thiện nên trong thời gian tháng 2 và tháng 3/2020, bị cáo Nguyễn Văn X đã gây ra 05 vụ Cướp giật tài sản trên địa bàn huyện Đông Anh nhằm mục đích để lấy tiền tiêu xài. Cụ thể như sau: Vụ thứ nhất: Khoảng 22h15’ ngày 09/3/2020, cháu Ngô Minh T (SN:

21/10/2003; HKTT: KT, DN, VH, ĐA, Hà Nội) mượn chiếc điện thoại Samsung Galaxy S7 Edge màu đồng của mẹ là chị Nguyễn Thị H1 (SN: 1979, HKTT: KT, DN, VH, ĐA, Hà Nội) rồi điều khiển xe đạp điện đến cây rút tiền tự động (ATM) tại tổ F thị trấn ĐA, Đông Anh, Hà Nội; không rút được tiền, cháu T quay về. Khi đi đến số nhà 302, tổ F thị trấn ĐA, Đông Anh, cháu T dừng xe, cầm chiếc điện thoại Samsung Galaxy S7 Edge ở tay trái và nghe điện thoại.

Cũng trong khoảng thời gian này, Nguyễn Văn X đeo khẩu trang và điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29S1 – 821.55 đi lang thang trên đường ĐCM, hướng VH đi AT để cướp giật tài sản. Thấy cháu T đang cầm điện thoại nghe ở bên tai trái, đường vắng người qua lại (do trong thời gian toàn dân thực hiện chỉ thị giãn cách xã hội phòng chống Covid 19), bị can X quay xe lại đi áp sát bên trái cháu T rồi kéo khẩu trang xuống dưới cằm và gọi cháu T “Cu ơi”. Cháu T quay sang nhìn. Bị cáo X dùng tay giật chiếc điện thoại của cháu T rồi phóng xe bỏ chạy hướng về AT, UN. Cháu T đến Công an huyện Đông Anh trình báo sự việc.

Ngày 22/3/2020, bị cáo X mang chiếc điện thoại Samsung Galaxy S7 Edge màu đồng, cướp giật được đến cửa hàng điện thoại N Việt mobile, địa chỉ ở tổ 22, thị trấn Đông Anh, Đông Anh do anh Hoàng Văn N (SN: 1980; HKTT: Xóm NT, CL, ĐA, Hà Nội) làm chủ. X cầm cố cho anh N trong 10 ngày để vay số tiền 2.000.000 đồng với thỏa thuận không đúng hẹn bị cáo X trả cho anh N thêm 50.000 đồng.

Vật chứng và đồ vật, tài liệu tạm giữ:

- Tạm giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Văn X: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu trắng; 01 sim điện thoại di động in mã seri 8984048000051107511; 01 áo thu đông màu xám nhãn hiệu Kose95; 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng loại nửa đầu in dòng chữ Grab; 01 đôi giầy dạng giầy lười giả da màu đen; 01 quần vải màu đen nam giới; 01 áo sơ mi dài tay, kẻ xọc nhãn hiệu Kiliega N+N Sài gòn – Hà Nội, sire M3 – 40; 01 áo thu đông dài tay màu xám; 01 túi xách màu giả da màu xanh đen, kích thước (25x15)cm; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đình Thị H2.

- Tạm giữ của anh Hoàng Văn N: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7 Edge, có số Imei 1: 355647073135880, số imei 2: 355647073135880, không lắp sim.

- Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn X: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS: 29S1 – 821.55, số máy: JA39E - 0765503, số khung: RLHJA390XHY785355; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI Y6 Prime, màu xanh đen, bên trong có 01 sim 0364485245 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Prime, màu vàng, bên trong có lắp 01 sim 0965618160.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 19/3/2020, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7 Edge, màu đồng trị giá 3.500.000 đồng; 01 chiếc sim điện thoại số 0987044339 trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.550.000 đồng.

Đối với anh Hoàng Văn N; khi mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy S7 Edge không biết là tài sản do bị cáo X trộm cắp mà có nên không có cơ sở xác định anh N có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với số tiền 2.000.000 đồng anh N nhận cầm đồ chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7 Edge với bị cáo X, anh N không yêu cầu bồi thường dân sự. Anh N không biết chiếc điện thoại bị can X cầm cố là do vi phạm pháp luật mà có. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Hoàng Anh N.

Đối với chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S7 Edge, màu đồng, có số Imei 1: 355647073135880, số imei 2: 355647073135880 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị H1 giao cho cháu Ngô Minh T sử dụng nhưng bị cướp giật. Ngày 01/9/2020, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho cháu Ngô Minh T. Cháu Ngô Minh T và chị Nguyễn Thị H1 đã nhận lại tài sản, không đề nghị bồi thường về phần dân sự và đề nghị giảm hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn X.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29S1 - 821.55 thu giữ của bị cáo X, X sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản, là tài sản hợp pháp của chị Vương Thị B (SN 2000; HKTT: MT, CL, ĐA, Hà Nội; vợ bị cáo X); chị B không biết việc X sử dụng xe máy để làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản; đối với 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu trắng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung J7 Prime, màu vàng, bên trong có lắp 01 sim 0965618160 là tài sản của chị B; 01 áo thu đông màu xám nhãn hiệu Kose95; 01 quần vải màu đen nam giới; 01 áo sơ mi dài tay, kẻ xọc nhãn hiệu Kiliega N+N Sài gòn – Hà Nội, sire M3 – 40 và 01 áo thu đông dài tay màu xám là tài sản của bị cáo X. Ngày 01/9/2020 Cơ quan điều tra xử lý vật chứng, trao trả cho chị Vương Thị B (được X ủy quyền nhận lại).

Đối với chiếc sim điện thoại di động in mã seri 8984048000051107511 thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của X, ngày 08/11/2020 Tập đoàn công nghiệp viễn thông Quân Đội có công văn 3165 phúc đáp lệnh thu giữ số 54 ngày 28/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông Anh xác định: Tại thời điểm kiểm tra (01/11/2020) thông tin chủ thuê bao và bảng kê chi tiết cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn của số điện thọai đã gắn với số serial 8984048000051107511 trong thời gian từ 09/02/2020 đến 31/7/2020 chưa đấu nối. Do đó, căn cứ các tài liệu điều tra thu thập được xác định chiếc sim điện thoại di động in mã seri 8984048000051107511 là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn X, không liên quan đến vụ án. Ngày 13/11/2020, Cơ quan điều tra xử lý vật chứng, trao trả cho chị Vương Thị B.

Đối với chiếc mũ bảo hiểm màu xanh trắng loại nửa đầu in dòng chữ Grab là tài sản của ông Nguyễn Văn H (SN 1965, bố bị can X). Ngày 01/9/2020 Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho ông Nguyễn Văn H.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI Y6 Prime, màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim 0364485245; 01 đôi giầy dạng giầy lười giả da màu đen tạm giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Văn X chuyển Tòa án nhân dân dân sự huyện Đông Anh để phục vụ công tác xét xử, đảm bảo thi hành án.

Vụ thứ hai: Khoảng 12h ngày 15/02/2020, bị cáo X điều khiển xe máy Honda Wave, màu xanh, BKS: 29S1 – 821.55 đến chợ Mai Hiên, ML, Đông Anh, Hà Nội để cướp giật tài sản. Thấy chị Nguyễn Thị Ngọc Đ (SN; 1983; HKTT: TB, ML, ĐA, Hà Nội) là chủ quán bán giò đang cầm điện thoại và ví ở tay, bị cáo X dừng xe trước cửa quán giả vờ hỏi mua giò. Chị Đ để chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A9 màu trắng bên trong lắp sim 0949798858 và 0379584472 và ví giả da màu đen xuống mặt bàn lấy giò để bán, bị cáo X liền cầm chiếc điện thoại và chiếc ví rồi phóng xe máy bỏ chạy. Bị cáo X điều khiển xe máy lên đê ML đi ra Quốc lộ 3 đến đường ĐDT và dừng lại kiểm tra thấy chiếc điện thoại có mật khẩu nên tháo sim tắt nguồn, còn chiếc ví bên trong có: 03 thẻ ngân hàng ATM, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Ngọc Đ, 04 thẻ bảo hiểm y tế và 30.000 đồng bị cáo X cầm về nhà cất giấu.

Đến 17h00’ cùng ngày, bị cáo X mang chiếc điện thoại Oppo A9 (không lắp sim) đến cửa hàng sửa chữa điện thoại N Việt mobie của anh Hoàng Văn N bán cho N với giá 3.000.000 đồng. Đến khoảng 21h30’ cùng ngày, bị cáo X dùng số thuê bao 0379584472 của chị Đ lắp vào điện thoại của bị cáo X và gọi vào số máy điện thoại của ông Hoàng Văn T3 (SN 1952; bố chồng chị Đ) để gặp chị Đ. Sau đó, chị Đ gọi lại cho X; X đã nói xin lỗi chị Đ vì đã lấy đồ của chị; chị Đ nói với X cứ trả lại đồ cho chị, có khó khăn gì cùng giải quyết. X nói với chị Đ đang nợ nên không dám về nhà và xin chị Đ cho 1.800.000 đồng để trả nợ và X sẽ trả lại đồ cho chị Đ; chị Đ đồng ý. Sau đó X hướng dẫn chị Đ chuyển tiền vào số tài khoản 0041000371965 mang tên Phan Anh Q1 tại ngân hàng Vietcombank.

Ngày 20/02/2020, chị Đ đến chi nhánh Ngân hàng BIDV chi nhánh Đông Hà Nội tại xã ML chuyển số tiền 800.000 đồng vào số tài khoản 0041000371965. Sau khi nhận được tiền bị cáo X hướng dẫn chị Đ đi đến một cột điện đối diện cây xăng ML để nhận lại tài sản. Chị Đ đã nhận lại được tài sản là chiếc ví giả da, 01 thẻ sim số thuê bao 0949798858, 3 thẻ ngân hàng ATM, 01 thẻ căn cước và 04 thẻ bảo hiểm. Đối với chiếc sim số thuê bao 0379584472 của chị Đ; sau khi trả lại tài sản cho chị Đ, bị cáo X đã tháo bỏ và vứt sim trên đường (bị cáo X không xác định được vị trí đã vứt sim).

Ngày 15/02/2020, sau khi mua chiếc diện thoại Oppo A9 màu xanh của bị cáo X. Đến ngày 23/02/2020, anh N bán lại cho anh Nguyễn Doãn H4 (SN: 1982; HKTT: KG, TT, ML, Hà Nội) với giá 4.000.000 đồng. Sau đó anh H4 bán lại cho anh Nguyễn Văn B1 (SN: 1995; HKTT; KG, TT, ML, Hà Nội) với giá 4.500.000 đồng.

Đồ vật, tài liệu tạm giữ:

- Tạm giữ của chị Nguyễn Thị Ngọc Đ: 01 USB nhãn hiệu Kingston dung lượng 8 Gb bên trong chứa đoạn ghi âm cuộc hội thoại giữa chị Đ và bị cáo X.

- Tạm giữ của anh Nguyễn Văn B1: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A9 số imei1: 866967042355399, số imei 2: 866967042355381 không gắn sim.

- Tạm giữ của anh Đỗ Đức Tích: 01 USB bên trong có chứa 01 đoạn clip dài 11 giây (từ 11 gờ 43 phút 48 giây đến 11 giờ 43 phút 59 giây) từ camera số 05; 01 đoạn clip dài 47 giây (từ 11 gờ 50 phút 22 giây đến 11 giờ 51 phút 10 giây) từ camera số 01.

Tại Bản Kết luận giám định số 5289/C09-P6 ngày 17/8/2020 của Viện khoa học Hình sự đối với yêu cầu giám định âm thanh kết luận:

- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin âm thanh cần giám định.

- Tiếng nói của người đàn ông xưng là “em” trong mẫu cần giám định và tiếng nói của anh Nguyễn Văn X trong mẫu so sánh là của cùng một người nói.

- Nội dung cuộc hội thoại trong mẫu cần giám định đã được dịch ra thành văn bản.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 28/02/2020, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A9, màu xanh trắng đã qua sử dụng trị giá 5.600.000 đồng; 02 chiếc sim điện thoại số: 0949798858 và 0379584472 giá trị:

100.000 đồng; 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng có giá trị: 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 5.800.000 đồng (Đối với các giấy tờ bị chiếm đoạt chị Đ không đề nghị định giá tài sản).

Đối với anh Hoàng Văn N, Nguyễn Doãn H4 và Nguyễn Văn B1 khi mua chiếc điện thoại Oppo A9 không biết là tài sản do bị cáo X trộm cắp mà có, nên không có căn cứ xác định các anh Hoàng Văn N, Nguyễn Doãn H4 và Nguyễn Văn B1 có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về dân sự: Anh B1 không đề nghị bồi thường về chiếc điện thoại và số tiền mua điện thoại mà anh B1 đã mua của anh H4.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A9 màu xanh trắng số imei1:

866967042355399, số imei 2: 866967042355381, không lắp sim là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Ngọc Đ. Ngày 26/6/2020, Cơ quan điều tra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho Nguyễn Thị Ngọc Đ. Chị Đ đã nhận lại tài sản, không đề nghị bồi thường về phần dân sự.

Vụ thứ ba:

Khoảng 18h30’ ngày 19/02/2020, bị cáo X điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29S1 - 821.55 đi đến ngã tư đường cạnh trường THCS VH tại DN, VH, ĐA, Hà Nội. Thấy chị Đình Thị H2 (SN: 1973; HKTT: KT, DN, VH, ĐA, Hà Nội) cùng con trai là Hoàng Gia H5 (SN: 2005) đang dọn hàng nước, ở cọc ô treo chiếc túi giả da, bị cáo X dừng đỗ xe ở ria đường, đi bộ vào hỏi mua nước rồi cầm chiếc túi giả da và phóng xe máy tẩu thoát. Về đến xóm M, CL, bị can X kiểm tra túi xách bên trong có 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu đen, 01 Chứng minh nhân dân mang tên Đình Thị H2. Trên đường đi về nhà, bị cáo X vứt chiếc điện thoại di động Mobell đi sau đó cầm túi xách và các tài sản về nhà cất giấu.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 21/10/2020, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận: 01 chiếc điện thoại Mobell có giá trị 350.000 đồng; 01 sim điện thoại có giá trị 50.000 đồng và 01 túi xách giả da màu đen có giá trị 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt: 500.000 đồng.

Đối với 01 túi xách giả da màu xanh đen kích thước (25x15)cm; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Đình Thị H2 là tài sản của chị Đình Thị H2; Cơ quan điều tra tạm giữ trong quá trình khám xét chỗ ở của bị cáo X. Ngày 13/11/2020, Cơ quan điều tra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị Đình Thị H2.

Về dân sự: Chị H2 đã nhận lại tài sản và nhận 1.500.000 đồng tiền bồi thường của gia đình bị cáo Nguyễn Văn X, chị H2 không đề nghị bồi thường thêm, có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn X.

Vụ thứ tư:

Khoảng 14h30’ ngày 22/3/2020, bị cáo X điều khiển xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 29S1 - 821.55 đi trục đường liên xã YT, GL, Hà Nội về thôn NV, DT, ĐA, Hà Nội với mục đích cướp giật tài sản và gặp chị Phạm Thị H3 (SN: 1981; HKTT: NV, DT, ĐA, Hà Nội) đang dừng xe máy đỗ trước cổng nhà, trên cổ đeo sợi dây chuyền vàng. Bị cáo X dừng xe máy và hỏi thăm đường. Sau khi chị H3 chỉ đường cho X xong, chị vào mở cổng và cất đồ ăn trong nhà rồi quay lại chiếc xe máy để đi làm thì Nguyễn Văn X lại tiếp tục hỏi đường. Khi chị H3 ngồi lên xe máy thì Nguyễn Văn X dùng tay trái túm giật sợi dây chuyền vàng của chị H3, do chị H3 phản xạ dùng tay hất ra nên bị cáo X không giật được tài sản. Bị cáo X phóng xe bỏ chạy hướng ra cầu DT, chị H3 hô cướp và đuổi theo khoảng 20m nhưng không đuổi kịp.

Chị H3 trình bày: Chiếc dây chuyền vàng, trọng lượng 3,6 chỉ, vàng 18k, mua cuối năm 2016 tại cửa hàng vàng bạc PQ ở TNT, HBT, Hà Nội với giá 20.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 21/10/2020, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận: chiếc dây chuyền kim loại vàng 18K trọng lượng 3,6 chỉ, trị giá 15.840.000 đồng.

Về dân sự: Chị H3 chưa bị thiệt hại về tài sản, không đề nghị bồi thường về phần dân sự.

Vụ thứ năm:

Khoảng 15h00’ ngày 22/3/2020, bị cáo X đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe máy Honda Wave, màu xanh, BKS: 29S1 – 821.55 đi lòng vòng trên đường với mục đích cướp giật tài sản. Đến khu vực Dốc Vân, ML, thấy chị Trần Thị O (SN: 1991; HKTT: DN, ML, ĐA, Hà Nội) đứng bán hàng hoa quả, đeo sợi dây chuyền vàng ở cổ, bị cáo X ngồi trên xe máy và vờ hỏi mua hoa quả. Khi chị O cúi người lấy hoa quả, X dùng tay giật sợi dây chuyền vàng chị O đeo trên cổ rồi phóng xe tẩu thoát hướng ra Quốc lộ 3 đến một cửa hàng vàng thị trấn Đông Anh (bị cáo X không nhớ địa chỉ và tên cửa hàng) bán chiếc dây chuyền được 2.100.000 đồng.

Chị O trình bày: Chiếc dây chuyền bằng vàng tây, dạng xoắn, loại vàng 14k.

Mua chiếc dây chuyền tại cửa hàng bán vàng tại khu vực Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội với giá 5.300.000 đồng Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 15/5/2020, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng tây loại 14k, trọng lượng 02 chỉ có trị giá: 5.000.000 đồng.

Đồ vật, tài liệu tạm giữ:

- Tạm giữ của anh Đặng Đức Anh (SN 1972; HKTT: DN, ML, ĐA, Hà Nội):

01 USB màu đỏ nhãn hiệu Kingston bên trong có chứa 01 đoạn clip thừi lượng 01 phút 10 giây (từ 15 giờ 00’ đến 15 giờ 08 phút 10 giây) - Tạm giữ của chị Trịnh Thị Ánh Tuyết (SN 1972; HKTT: DN, ML, ĐA, Hà Nội): 01 USB bên trong lưu giữ 01 đoạn clip thời gian từ 14 giờ 35’ đến 14 giờ 45’ ngày 22/3/2020.

- Tạm giữ của anh Nguyễn Hùng T5 (SN 1975; HKTT: DN, ML, ĐA, Hà Nội): 01 màu đỏ nhãn hiệu Kingston 8Gb, bên trong lưu 01 đoạn clip thời gian từ 15 giờ 00’ đến 15 giờ 10’ ngày 22/3/2020.

Về dân sự: Ngày 01/11/2020; ông Nguyễn Văn H (là bố của bị cáo Nguyễn Văn X) đã bồi thường cho chị O số tiền 5.000.000 đồng, chị O không đề nghị bồi thường thêm về phần dân sự và có đơn đề nghị giảm hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn X.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn X khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu thu thập. Mục đích cướp giật tài sản để lấy tiền tiêu xài; số tiền chiếm đoạt được bị cáo X đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 30/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn X về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt: Nguyễn Văn X từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI Y6 Prime, màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim 0364485245; 01 đôi giầy dạng giầy lười giả da màu đen. Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 03 USB tạm giữ. Buộc bị cáo nộp lại số tiền 5.030.000 đồng. Về dân sự không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đông Anh thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.

[2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn X tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra như: Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Được chứng minh bằng vật chứng của vụ án là các vật chứng thu giữ của bị cáo, các USB chứa hình ảnh liên quan tới việc phạm tội của bị cáo. Tổng số tài sản mà bị cáo cướp giật là 31.720.000 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn X đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:… d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;..”” [3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Về tiền án, tiền sự: Không có - Về nhân thân: Xác định bị cáo có nhân thân tốt.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:

+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội nhiều lần bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Văn X thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s và điểm b Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về hình phạt:

- Hành vi Cướp giật tài sản của bị cáo Nguyễn Văn X đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội trong lĩnh vực trật tự quản lý hành chính. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị Nhà nước quy định là tội phạm, nhưng bị cáo vì lười lao động, không chịu tu dưỡng lại muốn có nhiều tiền để tiêu xài nên đã cố tình nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần pH2 áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn huyện Đông Anh nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung. Khi lượng hình cũng cần pH2 xem xét đến nguyên nhân phạm tội của bị cáo trong vụ án để có hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi. Trong vụ án này nguyên nhân bị cáo Nguyễn Văn X có hành vi phạm tội xuất phát do lỗi cố ý hoàn toàn của bị cáo. Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm là phương tiện xe máy để thực hiện hành vi cướp giật, phạm tội nhiều lần. Vì vậy áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền…Tuy nhiên bị cáo hiện không có thu nhập nên Hội đồng xét xử áp không dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:

Đối với các vật chứng gồm: Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI Y6 Prime, màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim 0364485245; 01 đôi giầy dạng giầy lười giả da màu đen tạm giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Văn X không liên quan tới việc phạm tội nên trả lại bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Đối với 01 USB bên trong có chứa 02 đoạn clip của anh Đỗ Đức Tích; 01 USB nhãn hiệu Kingston của chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và 01 USB màu đỏ nhãn hiệu Kingston bên trong có chứa 01 đoạn clip thời lượng 01 phút 10 giây (từ 15 giờ 00’ đến 15 giờ 08 phút 10 giây) tạm giữ của anh Đặng Đức A; 01 USB bên trong lưu giữ 01 clip thời gian từ 14 giờ 35’ đến 14 giờ 45’ ngày 22/3/2020 tạm giữ của chị Trịnh Thị Ánh T6 và 01 USB màu đỏ nhãn hiệu Kingston, bên trong lưu 01 clip thời gian từ 15 giờ 00’ đến 15 giờ 10’ ngày 22/3/2020 của Nguyễn Hùng T5. Anh Đức A, anh T5 và chị Ánh T6 tuy mọi người không đề nghị lấy lại nhưng nội dung có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn X cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án. Đối với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 5.030.000 đồng, do bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên buộc bị cáo nộp để sung vào ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không còn yêu cầu gì về dân sự nên không pH2 xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo pH2 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Căn cứ: Điều 47 Bộ lật Hình sự năm 2015; Điều 106, 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn X 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2020.

Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HUAWEI Y6 Prime, màu xanh đen, bên trong lắp 01 sim 0364485245; 01 đôi giầy dạng giầy lười giả da màu đen nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/12/2020 giữa Công an huyện Đông Anh và Chị cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án các phong bì dán kín, niêm phong có lưu giữ các USB chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.

Buộc bị cáo nộp số tiền 5.030.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Văn Xum phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

271
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội cướp giật tài sản số 04/2021/HS-ST

Số hiệu:04/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Anh - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;