Bản án về tội chứa mại dâm số 44/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 44/2022/HS-ST NGÀY 26/04/2022 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc B, Tên gọi khác: không; 1975, tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: khu phố 4, phường B, thành phố B, tỉnh Đ; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn O, không rõ năm sinh (chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1955; vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 (đã ly hôn); có 02 con, sinh năm 2008 và 2011; tiền án: không, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/6/2021 đến ngày 21/6/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại, bị cáo “có mặt”.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Lê Hữu L, sinh năm 1991. Địa chỉ: 174/19/19A, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. “vắng mặt"

* Người làm chứng:

- Bà Trần Thị Kim X, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện H, tỉnh B. “vắng mặt”

- Chị Lê Thị N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện P, tỉnh H. “vắng mặt”

- Anh Trần Cao B, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp 5, xã T, huyện V, tỉnh Đ. “vắng mặt”.

- Anh Trần Thiện T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp 5, xã T, huyện V, tỉnh Đ. “vắng mặt”.

- Chị Ngô Thị Bích T, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đ. “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 12/2020, Nguyễn Ngọc B thuê 02 ki ốt tại ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đ để bán hải sản tươi sống. Đến khoảng tháng 02/2021 do làm ăn thua lỗ, B chuyển sang kinh doanh quán cà phê và tuyển 02 nhân viên Trần Thị Kim X, sinh năm 1989 và Lê Thị N, sinh năm 1994 làm tiếp viên phụ bán nước. Trong thời gian làm tiếp viên, X và N xin B cho kích dục và bán dâm tại quán nếu khách có nhu cầu thì B đồng ý, giá cả do X và N tự thỏa thuận với khách. B sử dụng 01 ki ốt bán cà phê, ki ốt còn lại B để cho N và X kích dục và bán dâm cho khách. Mỗi lần kích dục B lấy của X và N 80.000 đồng/lượt, bán dâm 100.000 đồng/lượt. Sau khi thu tiền B ghi vào quyển vở học sinh, trong đó ký hiệu kích dục là “X” và bán dâm là “O” để theo dõi đối chiếu. Hồi 19 giờ 30 phút ngày 12/6/2021, khi Trần Thị Kim X đang thực hiện hành vi bán dâm với Trần Cao B, sinh năm 1989 tại quán cà phê do Nguyễn Ngọc B quản lý thì bị Công an xã B Hòa phối hợp với Công an huyện Vĩnh Cửu kiểm tra bắt quả tang.

Tang vật thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus (của B); thu tại quầy: 01 tuýp gel bôi trơn hiệu Durex, 07 bao cao su hiệu VISTASE (chưa qua sử dụng) và 1.600.000 đồng;

Thu giữ trong phòng: 01 vỏ bao cao su hiệu VISTASE (đã qua sử dụng), 01 bao cao su đã qua sử dụng bên trong có chất dịch màu trắng, 01 tuýp gel bôi trơn hiệu ASEKY, 04 khăn giấy đã qua sử dụng và 500.000 đồng.

Qua kiểm tra quyển vở học sinh do B ghi chép xác định: Ngày 12/6/2021, B đã để Lê Thị N bán dâm 03 lần, kích dục 01 lần; Trần Thị Kim X bán dâm 05 lần, kích dục 02 lần, thu lợi bất chính số tiền 1.040.000 đồng. Ngoài ra từ ngày 27/4/2021 đến ngày 11/6/2021, B đã thu lợi bất chính số tiền 65.780.000 đồng từ việc chứa mại dâm.

Bản cáo trạng số: 38/CT-VKS-HS ngày 22/3/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội: “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo đúng như nội dung được tóm tắt ở phần trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Chứa mại dâm”. Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

+ Về vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã giao trả Nguyễn Ngọc B 01 điện thoại di động hiệu Phone 7 Plus.

Đề nghị Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 67.320.000 đồng do phạm tội mà có (trong đó buộc Nguyễn Ngọc B phải nộp số tiền 65.780.000 đồng); Trả lại Nguyễn Ngọc B 560.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 tuýp gel bôi trơn hiệu Durex, 07 bao cao su hiệu VISTASE (chưa qua sử dụng), 01 vỏ bao cao su hiệu VISTASE (đã qua sử dụng), 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn hiệu ASEKY, 04 khăn giấy đã qua sử dụng + Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng hình sự:

Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong giai đoạn điều tra đã có lời khai. Việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về căn cứ kết tội bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc B đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2021 đến ngày 12/6/2021, Nguyễn Ngọc B nhiều lần sử dụng quán cà phê do mình quản lý tại ấp B Thạch, xã B Hòa, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cho các tiếp viên bán dâm và kích dục cho khách, thu lợi bất chính số tiền 66.820.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc B đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Chứa mại dâm” quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tính chất, mức độ phạm tội: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh trong xã hội và tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ nhận thức, điều khiển hành vi của mình và nhận biết được những tác động tiêu cực từ tệ nạn mại dâm nhưng vì muốn thu lợi bất chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Ngọc B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Ngọc B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Về vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã giao trả Nguyễn Ngọc B là có căn cứ.

Đối với số tiền thu giữ của Nguyễn Ngọc B ngày 12/6/2021 là 1.600.000 đồng. Trong đó, số tiền Nguyễn Ngọc B thu lợi bất chính số tiền 1.040.000 đồng nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước, số tiền còn lại là 560.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho Nguyễn Ngọc B.

Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ ngày 12/6/2021 là tiền bán dâm nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 65.780.000 đồng Nguyễn Ngọc B thu lợi bất chính từ ngày 27/4/2021 đến ngày 11/6/2021 nên buộc Nguyễn Ngọc B phải nộp số tiền 65.780.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 tuýp gel bôi trơn hiệu Durex, 07 bao cao su hiệu Vistase (chưa qua sử dụng), 01 vỏ bao cao su hiệu Vistase (đã qua sử dụng), 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn hiệu Aseky, 04 khăn giấy đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh; điều khoản; Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Các vấn đề khác: đối với hành vi mua dâm và bán dâm của các đối tượng Trần Cao B, Trần Thiện T, Trần Thị Kim X và Lê Thị N, Công an huyện Vĩnh Cửu Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Điểm c, g khoản 2 Điều 327; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Chứa mại dâm”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc B 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ những ngay bị tạm giữ từ ngày 13/6/2021 đến ngày 21/6/2021.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 tuýp gel bôi trơn hiệu Durex; 07 bao cao su hiệu Vistase (chưa qua sử dụng); 01 vỏ bao cao su hiệu Vistase (đã qua sử dụng); 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 tuýp gel bôi trơn hiệu Aseky; 04 khăn giấy đã qua sử dụng;

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.540.000 đồng (một triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng);

+ Trả lại cho Nguyễn Ngọc B 560.000 đồng (năm trăm sáu mươi ngàn đồng).

(Theo biên lai thu tiền số 0007040 ngày 23/3/2022; Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).

+ Buộc Nguyễn Ngọc B phải nộp số tiền 65.780.000 đồng (sáu mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng) Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Ngọc B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn trên tính từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo luật định.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

371
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội chứa mại dâm số 44/2022/HS-ST

Số hiệu:44/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Cửu - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/04/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;