TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
BẢN ÁN 08/2024/DS-ST NGÀY 20/06/2024 VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG, DI SẢN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Ngày 20 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2022/TLST-DSST ngày 17/11/2022 về việc “Phân chia tài sản chung và di sản thừa kế theo pháp luật” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXX-ST ngày 18/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2024/QĐ-DSST ngày 18/01/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 01/2024/QĐST-DS ngày 31/01/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số: 01/2024/TB-TA ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị S, sinh năm 1955. Nơi đăng ký HKTT, trú tại: Thôn K, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984. Trú tại: Số D, Hẻm B, Ngách B, Ngõ B K, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Tường Như T1, sinh năm 1995. Nơi đăng ký HKTT, trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 3.1. Bà Đặng Thị D - sinh năm 1954. Trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. 3.2. Chị Tường Thị H, sinh năm 1981. Trú tại: Tổ N Thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. 3.3. Chị Tường Thị T2, sinh năm 1985. Trú tại: Thôn K, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. 3.4. Chị Tường Thị Ngọc H1, sinh năm 1995. Trú tại: Thôn N, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Tại phiên tòa: Bà S, anh T, chị H, chị T2 và chị H1 có mặt. Anh T1 và bà D vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị S trình bày: Bà và ông Tường Như Đ kết hôn với nhau vào năm 1978, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã L. Bà và ông Đ có 03 người con chung là chị Tường Thị H, chị Tường Thị T2, chị Tường Thị H1.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà có tạo dựng được khối tài sản chung là Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16 diện tích là 326,6m² tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nguồn gốc thửa đất này là do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng lại của vợ chồng ông Đỗ Bá T3 và bà Phan Thị H2 vào ngày 22/9/1994. Thửa đất này đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành là BT 723358, số vào số cấp GCN CH03319 vào ngày 12/10/2011 mang tên Tường Như Đ.
Trước kia, do điều kiện kinh tế của gia đình khó khăn nên ông Đ đã lên Lạng Sơn để làm ăn, buôn bán. Đến cuối năm 2013 thì ông Đ chết tại Lạng Sơn và không để lại di chúc. Ngày 23/9/2022 ba đã tiến hành làm thủ tục để phân chia đối với phần di sản của ông Đ để lại theo quy định của pháp luật. Trong quá trình bà làm thủ tục thì anh Tường Như T1 (có hộ khẩu tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn) tự nhận là con đẻ của ông Đ và bà D, đã có đơn khiếu nại và không đồng ý với việc chia di sản thừa kế nêu trên của gia đình bà.
Sau khi nhận được đơn khiếu nại của anh T1, gia đình bà đã nhiều lần liên hệ với anh T1 để yêu cầu cung cấp những giấy tờ chứng minh quan hệ cha con giữa anh T1 với ông Đ để gia đình bà làm căn cứ tiếp tục thực hiện việc phân chia đối với phần di sản thừa kế do ông Đ để lại. Tuy nhiên, anh T1 không hợp tác và không đồng ý với đề xuất của gia đình bà, yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do vậy, bà làm đơn khởi kiện đề nghị: Phân chia tài sản chung của bà và ông Đ là Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16 diện tích là 326,6m² tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Đối với phần diện tích ông Đ được chia trong thửa đất trên thì đề nghị Tòa án phân chia cho các đồng thừa kế theo quy định của pháp luật.
Theo bản tự khai, biên bản ghi lời khai tại tòa án và tại phiên tòa, bị đơn anh Tường Như T1 trình bày: Anh nhất trí với trình bày của bà S về số lượng con của bà S và ông Đ. Ngoài ra, anh trình bày thêm: Bà S là người vợ thứ nhất của ông Đ, bà D là người vợ thứ hai. Ông Đ nói với bà D và mọi người là ông Đ và bà S không đăng ký kết hôn, chính vì vậy bà D mới chấp nhận chung sống với ông Đ. Bà D và ông Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 1985 cho đến khi ông Đ chết, tại Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Bà D và ông Đ cũng không làm thủ tục đăng ký kết hôn, ông bà chỉ có 01 người con chung duy nhất là anh. Ngoài ra, giữa ông Đ và bà S, ông Đ và bà D không có con chung, con riêng hay con nuôi nào khác.
Từ nhỏ đến lớn, anh đều sống cùng với ông Đ và bà D trên Lạng Sơn. Thỉnh thoảng, ông Đ có đưa anh và bà D về quê ở xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên để chơi hoặc mỗi khi có công việc gì đó, có lần ông Đ ốm đau thì anh về một mình. Anh và bà D biết ông Đ có vợ con ở quê nhưng cũng không gặp mặt bao giờ. Vào khoảng năm 2003, ông Đ bị bệnh ung thư phổi và bệnh tim, trong khoảng thời gian gần 10 năm từ khi ông Đ bị ốm đau đến khi chết thì toàn bộ việc chăm sóc, thuốc thang và đưa ông Đ đi viện chữa trị, cũng như việc lo ma chay, chôn cất, xây mộ khi ông Đ chết, việc lo giỗ tết, thờ cúng ông Đ từ khi chết (năm 2013) cho đến nay đều hoàn toàn do anh và bà D lo liệu. Bà S cùng với 3 người con gái không hề đến thăm hỏi gì ông Đ. Mãi sau này khi ông Đ chết thì chỉ có chị H và chị T2 lên Lạng Sơn dự đám tang, còn bà S và chị H1 thì không lên.
Khi ông Đ còn sống, có nói là ông Đ được ông bà nội cho một thửa đất ở quê. Thửa đất đó đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đ. Đến năm 2009 khi thực hiện dự án V, ông Đ về thực hiện kê khai đo đạc, đến năm 2011, thửa đất này được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới mang tên ông Đ. Trước kia, trên thửa đất này chỉ có 02 gian nhà nhỏ lợp ngói, do một mình mẹ ông Đ là cụ Đào Thị C ở, đến khi cụ C chết thì không ai ở nữa. Hiện nay, ngôi nhà đã cũ nát chỉ còn khung nhà và đất để không, không ai sử dụng. Trước đó, vào năm 2007, ông Đ đã viết di chúc là để lại toàn bộ thửa đất trên cho anh và bà D.
Ngày 23/9/2022, anh T1 nhận được Thông báo về việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của Văn phòng C1 đối với Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16 diện tích là 326,6m² tại xã L thì anh đã làm Đơn khiếu nại gửi đến Văn phòng công chứng với nội dung là anh cũng thuộc diện hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ nhưng bà S không cung cấp thông tin. Về phía bà S cũng như 3 con không hề nói chuyện hay thông báo gì với bà D và anh về việc phân chia Thửa đất trên.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà S thì quan điểm của anh là: Thửa đất trên không phải là tài sản chung của bà S và ông Đ trong thời gian chung sống với nhau. Nguồn gốc của thửa đất này là của bố mẹ ông Đ là cụ Tường Như L và cụ Đào Thị C để lại cho ông Đ và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đ. Do vậy, Thửa đất trên là tài sản riêng của một mình ông Đ. Đề nghị Tòa án phân chia thừa kế đối với toàn bộ thửa đất này theo quy định của pháp luật. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án xem xét đối với bản di chúc ông Đ viết mà anh đã cung cấp cho Tòa án để xem xét quyền lợi được hưởng cho anh và bà D. Nhưng sau đó, anh lại có quan điểm là anh có bản di chúc gốc để đối chiếu với bản phô tô đã xuất trình cho Tòa án, nhưng anh không đề nghị xem xét tính hợp pháp của bản di chúc này nên không xuất trình bản gốc để làm thủ tục giám định chữ ký của ông Đ. Bởi lẽ, thửa đất này là di sản của ông Đ, ngoài bà D và anh ra thì ông Đ vẫn còn vợ con ở quê. Do vậy, anh cũng không nhận thửa đất đó là của riêng mình, anh nhất trí với yêu cầu của nguyên đơn là đề nghị phân chia di sản thừa kế của ông Đ theo quy định của pháp luật, quyền lợi của anh và bà D đến đâu thì xin được nhận đến đó.
Tại văn bản ghi ý kiến của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Tường Thị H, Tường Thị T2 và Tường Thị H1 trình bày: Các chị đều nhất trí với trình bày của bà S về hoàn cảnh gia đình, số lượng con của bà S và ông Đ. Ngoài ra, chị H, chị T2 và chị H1 đều có quan điểm: Đối với kỷ phần mà các chị được hưởng thì xin tặng cho bà S toàn bộ và không kèm theo bất cứ điều kiện gì. Đồng thời đề nghị Tòa án giao toàn bộ kỷ phần mà các chị được hưởng cho bà S được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt. Bà S có trách nhiệm thay các chị nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật và thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến kỷ phần mà các chị được hưởng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị D trình bày: Bà và anh T1 đã được Tòa án giải thích và hướng dẫn làm thủ tục đối với yêu cầu phân tố và yêu cầu độc lập nhưng bà và anh T1. Đồng thời khẳng định: Anh có bản di chúc gốc để đối chiếu với bản phô tô đã xuất trình cho Tòa án nhưng bà và anh T1 không đề nghị xem xét tính hợp pháp của bản di chúc này nên không xuất trình bản gốc để làm thủ tục giám định chữ ký của ông Đ. Bởi lẽ, thửa đất này là di sản của ông Đ, ngoài bà và anh T1 thì ông Đ vẫn còn vợ con ở quê. Do vậy, bà và anh T1 cũng không nhận thửa đất đó là của riêng mình. Bà và anh T1 nhất trí với yêu cầu của nguyên đơn là đề nghị phân chia di sản thừa kế của ông Đ theo quy định của pháp luật, quyền lợi của bà và anh T1 đến đâu thì xin được nhận đến đó. Đồng thời đề nghị Tòa án xem xét đến công sức của bà và anh T1 đối với việc chăm sóc, phụng dưỡng ông Đ từ khi bệnh tật, già yếu (năm 2003) đến khi chết; cũng như việc lo ma chay, mồ mả, giỗ tết, thờ cúng ông Đ từ khi chết (năm 2013) cho đến nay.
Ngoài ra, các đương sự đều có quan điểm: Trên thửa đất chỉ có một số cây cối nhưng giá trị không đáng kể và khung nhà đã đổ nát, đất để không, không ai có công sức gì trong việc trông coi quản lý, tôn tạo di sản nên đều không yêu cầu đặt ra giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn - bà S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, bà có quan điểm nếu bà D và anh T1 không có nhu cầu nhận kỷ phần được hưởng bằng hiện vật thì bà xin mua lại kỷ phần của bà D và anh T1 theo giá mà Hội đồng đã định giá.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H, chị T2 và chị H1 giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong biên bản lời khai và hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 212, Điều 213, Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của BLDS; Điều 166, Điều 167, Điều 170 của Luật đất đai năm 2013; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 của BLTTDS. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị S.
Xác định 163,3m² đất thuộc Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16 tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên là phần tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng, định đoạt của bà Phan Thị S.
Xác định di sản thừa kế của ông Tường Như Đ để lại là 163,3m² đất (gồm 146,5m² đất ONT và 16,8m² đất LNQ) thuộc Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16 tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Phân chia phần di sản của ông Đ để lại như sau:
+ Chia cho bà S, chị H, chị T2, chị H1, anh T1 được hưởng di sản của ông Đ và chia cho bà D được hưởng một phần di sản đối với người có công chăm sóc người để lại di sản.
+ Giao cho bà S được sử dụng toàn bộ thửa đất, bà S có trách nhiệm trả anh T1 và bà D kỷ phần được hưởng theo giá trị bằng tiền. Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
1. Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà D đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng đều đã có đơn, quan điểm xin được giải quyết xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.
2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật trong vụ án là Tranh chấp về “Phân chia tài sản chung và di sản thừa kế theo pháp luật”. Tài sản đề nghị giải quyết là bất động sản tại xã L, huyện K. Nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35; Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu.
3. Về thời hiệu khởi kiện: Ông Đ chết năm 2013. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của BLDS, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản. Bà S có đơn khởi kiện chia thừa kể từ ngày 09/11/2022 và Tòa án thụ lý vụ án vào ngày 17/11/2022. Vì vậy, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Đ vẫn còn.
4. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đ và bà S đã làm thủ tục đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã L vào ngày 21/4/1978, cho đến khi ông Đ chết hai bên vẫn chưa làm thủ tục ly hôn nhau. Khi còn sống, ông Đ vẫn đi lại giữa hai nơi Lạng Sơn và Hưng Yên, do vậy hôn nhân giữa ông Đ và bà S là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông Đ và bà D chung sống thực tế với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 1985. Hành vi này là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, không được pháp luật công nhận và bảo vệ.
5. Về quyền sử dụng đất: Theo lời khai của các đương sự, biên bản xác minh ở địa phương thì nguồn gốc của thửa đất đang có tranh chấp là của vợ chồng ông T3 và bà H2. Theo bản đồ, số mục kê đo đạc năm 1990 thì thửa đất có số thửa là 505, tờ bản đồ số 2, diện tích 293m², mục đích sử dụng đều là đất ở và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đỗ Bá T3. Đến năm 1994, ông T3 và bà H2 đã chuyển nhượng lại Thửa đất trên cho ông Đ. Hai bên đã ra UBND xã L xác nhận việc chuyển nhượng vào ngày 27/9/1994. Đến năm 2009, theo bản đồ Vlap, Thửa đất trên có số Thửa là 239 tờ bản đồ số 16, diện tích 326,6m². Thửa đất đã được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Tường Như Đ vào ngày 12/10/2011, số phát hành BI 723358, số vào số cấp GCN CH 03319. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này có 293m² đất ONT và 32,6m² đất LNQ. Phần diện tích 33,6m² đất LNQ này không phải là tiêu chuẩn đất nông nghiệp của ai chia vào trong hộ gia đình mà xác định là phần diện tích đất tăng so với hạn mức đất ở theo GCNQSDĐ cũ (293m²) nên chưa được công nhận là đất ở. Do đó, quan điểm của anh T1 cho rằng thửa đất này là của bố mẹ ông Đ để lại cho ông Đ và là tài sản riêng của ông Đ là không có căn cứ.
Về giá trị quyền sử dụng đất: Theo biên bản định giá thì đất ONT có giá trị là 3.500.000đ/1m², đất LNQ có giá trị là 90.000đ/1m².
6. Về tài sản của bà S và di sản thừa kế của ông Đ để lại tại Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16, diện tích 326,6m² và tài sản trên đất: Thửa đất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông Đ và bà S nên xác định đây là tài sản chung của bà S và ông Đ. Do vậy, căn cứ vào Điều 212, Điều 213 BLDS; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định quyền sử dụng đất của bà S là ½ thửa đất, di sản thừa kế của ông Đ là ½ thửa đất, cụ thể:
- Quyền sử dụng đất của bà S là: 146,5m² đất ONT và 16,8m² đất LNQ.
- Quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của ông Đ để lại là: 146,5m² đất ONT và 16,8m² đất LNQ, có giá trị là 514.262.000đ.
Tài sản trên đất: Trên thửa đất chỉ có một số cây cối nhưng giá trị không đáng kể và khung nhà đã đổ nát, đất để không, các đương sự đều không yêu cầu đặt ra giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
7. Về việc phân chia di sản của ông Đ: Anh T1 và bà D có xuất trình bản phô tô “Giấy di chúc ngày 20/9/2007” của ông Đ nhưng anh T1 và bà D lại từ chối làm thủ tục giám định chữ ký của ông Đ và đề nghị phân chia di sản theo pháp luật. Do anh T1 và bà D không xuất trình bản gốc của văn bản này nên Hội đồng xét xử không xem xét được tính hợp pháp của văn bản. Giả sử “Giấy di chúc ngày 20/9/2007” đúng là do ông Đ viết thì di chúc cũng không hợp pháp về cả hình thức và nội dung vì không có người làm chứng và không được chứng thực hoặc công chứng, ông Đ định đoạt cả phần tài sản của bà S. Do vậy, xác định ông Đ chết không để lại di chúc, nên phần di sản của ông Đ sẽ được chia theo quy định của pháp luật cho các đồng thừa kế.
7.1. Về diện và hàng thừa kế: Ông Đ và bà S có 03 người con chung là chị H, chị T2 và chị H1.
Bà D và anh T1 đều trình bày: Anh T1 là con đẻ của bà D và ông Đ và xuất trình Bản sao Giấy khai sinh được chứng thực tại UBND xã H. Điều này hoàn toàn phù hợp với nội dung Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng tại địa phương xã H. Như vậy, xác định ông Đ và bà D có 01 người con chung là anh T1.
Ngoài ra, giữa ông Đ và bà S, ông Đ và bà D không có con chung, con riêng hay con nuôi nào khác.
Như vậy, xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ gồm: Bà S, chị H, chị T2, chị H1 và anh T1.
7.2. Công sức duy tu, tôn tạo, quản lý di sản: Theo các đương sự trình bày và theo biên bản xem xét thẩm định thì trên thửa đất chỉ có một số cây cối nhưng giá trị không đáng kể và khung nhà đã đổ nát, đất để không, không ai có công sức gì trong việc trông coi quản lý, tôn tạo di sản nên đều không yêu cầu đặt ra giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
7.3. Công sức chăm sóc, thờ cúng người để lại di sản: Anh T1 và bà D đều trình bày: Vào khoảng năm 2003, ông Đ bị bệnh ung thư phổi và bệnh tim, trong khoảng thời gian gần 10 năm từ khi ông Đ bị ốm đau đến khi chết thì toàn bộ việc chăm sóc, đưa ông Đ đi viện chữa trị, cũng như việc lo ma chay, chôn cất, xây mộ khi ông Đ chết, việc lo giỗ tết, thờ cúng ông Đ từ khi chết cho đến nay thì đều hoàn toàn do anh T1 và bà D lo liệu. Điều này hoàn toàn phù hợp với nội dung Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng tại địa phương thôn T, xã H.
Về phía bà S trình bày: Từ khoảng năm 1996 đến khi ông Đ chết thì bà và các con với ông Đ không quan tâm gì đến nhau và bà cùng các con đã bỏ về nhà đẻ ở. Bà S và các con bà cũng thừa nhận ông Đ đi làm ăn ở Lạng Sơn từ năm 1985, thỉnh thoảng mới về quê. Ông Đ giấu địa chỉ ở trên Lạng Sơn không cho mẹ con bà biết, mãi đến khi ông Đ chết thì mẹ con bà mới biết địa chỉ chỗ ở của ông Đ trên Lạng Sơn. Trong quá trình làm ăn ở Lạng Sơn thì ông Đ có ở với bà D, đến khi ông Đ chết thì bà D và anh T1 là người lo ma chay, chôn cất ông Đ tại Lạng Sơn. Khi ông Đ chết, bà S và chị H1 cũng không đến chịu tang và lo ma chay cho ông Đ. Hiện tại, mồ mả của ông Đ đang ở Lạng Sơn và do anh T1, bà D thờ cúng.
Do vậy, để đảm bảo lẽ công bằng và quyền, lợi ích hợp pháp của người có công sức chăm sóc, thờ cúng ông Đ là người để lại di sản, cần phải trích công sức cho bà D bằng một kỷ phần thừa kế.
7.4. Phân chia di sản thừa kế theo giá trị và hiện vật: Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào quan điểm của các đương sự và hiện trạng thực tế của thửa đất để phân chia phần diện tích đất phù hợp cho các đồng thừa kế. Bà S được chị H, chị T2 và chị H1 tặng cho kỷ phần được hưởng. Bà S có nguyện vọng xin nhận kỷ phần được hưởng bằng hiện vật, đồng thời có quan điểm nếu bà D và anh T1 không có nhu cầu nhận kỷ phần được hưởng bằng hiện vật thì bà xin mua lại kỷ phần của bà D và anh T1 theo giá mà Hội đồng đã định giá. Quan điểm của bà D và anh T1 đều xin nhận đúng kỷ phần của mình, tuy nhiên, kỷ phần của bà D và anh T1 được hưởng nếu chia bằng hiện vật thì sẽ không đủ điều kiện để tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Quyết định số: 12/2013/QĐ-UBND ngày 05/7/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh H về “Ban hành quy định về hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở, điều kiện tách thửa đối với các loại đất, xử lý một số trường hợp cụ thể khi cấp, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”. Do vậy, cần giao toàn bộ hiện vật cho bà S và bà S có trách nhiệm thanh toán cho bà D và anh T1 giá trị tài sản mà bà D và anh T1 được hưởng bằng tiền. Cụ thể việc phân chia di sản như sau:
- Quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của ông Đ để lại là: 146,5m² đất ONT tương ứng với giá trị là 512.750.000đ và 16,8m² đất LNQ tương ứng với giá trị là 1.512.000đ. Tổng giá trị di sản của ông Đ để lại được đề nghị giải quyết là: 514.262.000đ.
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ gồm 05 người là: Bà S, chị H, chị T2, chị H1 và anh T1. Tuy nhiên, như phần (7.3) đã nhận định, khi phân chia di sản cần phải trích công sức cho bà D bằng một kỷ phần thừa kế. Do vậy, di sản của ông Đ được chia làm 6 kỷ phần gồm bà S, chị H, chị T2, chị H1, bà D và anh T1, cụ thể mỗi kỷ phần sẽ được hưởng như sau: Đối với đất ONT 512.750.000đ : 6 = 85.458.333đ (tương ứng với 146,5m² : 6 = 24,42m²). Đối với đất LNQ 1.512.000đ : 6 = 252.000đ (tương ứng với 16,8m² : 6 = 2,8m²). Như vậy, mỗi kỷ phần được hưởng có tổng giá trị là: 85.458.333đ + 252.000đ = 85.710.333đ (tương ứng với 27,22m² đất, trong đó có 24,42m² đất ONT và 2,8m² đất LNQ).
Phần tài sản bà S, chị H, chị T2, chị H1, bà D và anh T1 mỗi người được hưởng là: 85.710.333đ (tương ứng với 27,22m² đất, trong đó có 24,42m² đất ONT và 2,8m² đất LNQ).
Chị H, chị T2 và chị H1 tặng cho phần di sản được thừa kế cho bà S. Đây là sự tự nguyện của các đương sự, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên được chấp nhận. Đồng thời, giao cho bà S kỷ phần của bà D và anh T1 bằng hiện vật. Như vậy, tổng số di sản bà S được nhận từ phần di sản của ông Đ là: 163,3m² đất, trong đó 146,5m² đất ONT và 16,8m² đất LNQ, có giá trị là 514.262.000đ.
Buộc bà S phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà D và anh T1 mỗi người số tiền là 85.710.333đ (tương ứng với 27,22m² đất, trong đó có 24,42m² đất ONT và 2,8m² đất LNQ) là giá trị kỷ phần mà bà D và anh T1 được hưởng từ di sản của ông Đ.
Bà S có trách nhiệm kê khai, đăng ký, làm thủ tục và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án.
8. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của BLTTDS; Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí chia tài sản: Bà S được chia 163,3m² đất có giá trị là 514.262.000đ. Do đó, bà phải chịu (400.000.000đ x 5%) + (114.262.000đ x 4%) = 24.570.480đ án phí. Nhưng bà là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên sẽ miễn toàn bộ án phí cho bà.
- Án phí đối với phần di sản, phần công sức được hưởng: Bà S được hưởng 27,22m² đất có giá trị là 85.710.333đ. Do đó, bà phải chịu (85.710.333đ x 5%) = 4.285.516đ án phí. Nhưng bà là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên sẽ miễn toàn bộ án phí cho bà.
Bà D là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí nên phải chịu án phí đối với phần công sức được hưởng là: (85.710.333đ x 5%) = 4.285.516đ (Làm tròn thành 4.285.500đ).
Chị H, chị T2 và chị H1 mỗi người phải chịu án phí tương ứng với giá trị kỷ phần được hưởng là: (85.710.333đ x 5%) = 4.285.516đ (Làm tròn thành 4.285.500đ). Chị H, chị T2 và chị H1 tặng cho toàn bộ kỷ phần được hưởng cho bà S nên bà S phải chịu án phí tương ứng với kỷ phần mà Chị H, chị T2 và chị H1 được hưởng là: 4.285.500đ x 3 = 12.856.500đ.
Anh T1 phải chịu án phí tương ứng với giá trị kỷ phần được hưởng là: (85.710.333đ x 5%) = 4.285.516đ (Làm tròn thành 4.285.500đ).
- Tiền tạm ứng án phí: Ngày 17/11/2022, bà Phan Thị S đã nộp 2.000.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008026 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu, nhưng bà được miễn án phí nên sẽ hoàn trả bà, tuy nhiên do bà phải chịu tiền án phí do kỷ phần di sản các con bà cho bà nên sẽ đối trừ vào phần án phí bà phải nộp.
9. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ: Điều 212, Điều 213, Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 170, Điều 188 của Luật đất đai năm 2013; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2/ Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị S.
- Xác định 163,3m² đất (gồm 146,5m² đất ONT và 16,8m² đất LNQ), có giá trị 514.262.000đ là phần tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng, định đoạt của bà Phan Thị S thuộc Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16, diện tích 326,6m² tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên đã được Ủy ban nhân dân huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành là BT 723358, số vào số cấp GCN CH03319 vào ngày 12/10/2011 mang tên Tường Như Đ.
- Xác định di sản thừa kế của ông Tường Như Đ để lại là 163,3m² đất (gồm 146,5m² đất ONT và 16,8m² đất LNQ), có giá trị 514.262.000đ thuộc Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16, diện tích 326,6m² tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
- Chấp nhận sự tự nguyện của chị Tường Thị H, chị Tường Thị T2, chị Tường Thị H1 tặng cho kỷ phần thừa kế được hưởng từ di sản thừa kế của ông Tường Như Đ cho bà Phan Thị S, không kèm theo bất cứ điều kiện gì.
- Chia, giao cho bà Phan Thị S được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt toàn bộ Thửa đất số 239 tờ bản đồ số 16, diện tích 326,6m² tại thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Buộc bà S phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà D số tiền 85.710.333đ (Tám mươi lăm triệu bảy trăm mười nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) là giá trị kỷ phần mà bà D được hưởng từ di sản của ông Đ.
Buộc bà S phải có nghĩa vụ thanh toán cho anh T1 số tiền 85.710.333đ (Tám mươi lăm triệu bảy trăm mười nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) là giá trị kỷ phần mà anh T1 được hưởng từ di sản của ông Đ.
(Việc phân chia đất nói trên có sơ đồ vẽ kèm theo bản án).
Bà S có trách nhiệm kê khai, đăng ký, làm thủ tục và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án.
3/ Về án phí:
- Án phí chia tài sản: Miễn toàn bộ án phí đối với phần tài sản được nhận là 24.570.480đ (Hai mươi bốn triệu năm trăm bảy mươi nghìn bốn trăm tám mươi đồng) cho bà S.
- Án phí đối với phần di sản, phần công sức được hưởng: Bà S được miễn toàn bộ án phí đối với di sản thừa kế được hưởng là 4.285.516đ (Bốn triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm mười sáu đồng). Bà S phải chịu án phí tương ứng với kỷ phần mà chị H, chị T2 và chị H1 được hưởng tặng cho bà là 12.856.500đ, nhưng được đối trừ số tiền 2.000.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008026 ngày 17/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Khoái Châu, nay bà còn tiếp tục phải nộp 10.856.500đ (Mười triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng). Bà D phải chịu án phí đối với phần công sức được hưởng là 4.285.516đ (Làm tròn thành 4.285.500đ) (Bốn triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm đồng). Anh T1 phải chịu án phí tương ứng với giá trị kỷ phần được hưởng là 4.285.516đ (Làm tròn thành 4.285.500đ) (Bốn triệu hai trăm tám mươi lăm nghìn năm trăm đồng).
4/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án, phần quyết định của bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần nội dung bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 - Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Bản án về phân chia tài sản chung, di sản thừa kế theo pháp luật số 08/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 08/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Khoái Châu - Hưng Yên |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 20/06/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về