Bản án về ly hôn số 36/2021/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, NINH BÌNH

BẢN ÁN 36/2021/HNGĐ-ST NGÀY 16/08/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 16/8/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2021/TLST- HNG§ ngµy 19/4/2021 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST- DS ngày 14/7/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2021/QĐST ngày 27/7/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1994.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn K, sinh năm 1990.

Đều có địa chỉ: Thôn AK, xã QL, huyện N, tỉnh N.

(Chị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh K vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 19/4/2021 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Nho Quan nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Nguyễn Thị B và anh Bùi Văn K có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QL, huyện N, tỉnh N trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào ngày 01/3/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng nhà với bố mẹ chồng tại thôn AK, xã QL, huyện N. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là trước khi kết hôn chưa tìm hiểu kỹ về nhau, quá trình sống chung bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi, chửi nhau. Đến đầu năm 2021 nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự sâu sắc nên đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống ly thân với anh K. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn K.

2. Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Bùi Văn K đã được tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng để anh K biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, nhưng anh K không đến tòa án làm việc để trình bày quan điểm ý kiến của mình về việc chị B làm đơn ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 09/7/2021 UBND xã QL xác nhận thông tin về mối quan hệ hôn nhân của anh K và chị B đúng như chị B trình bày, đề nghị tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:

* Về thủ tục tố tụng:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện và chấp hành quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quy định trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5; Điều 147; Điều 266; Điều 227; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B và anh Bùi Văn K.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chị B đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan nay chuyển sang án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn AK, xã QL, huyện N, tỉnh N, Tòa án nhân dân huyện N đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết là đúng quy định. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, phiên tòa đã được hoãn lần thứ nhất do bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Bùi Văn K tự nguyện đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã QL, huyện N, tỉnh N cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/3/2019. Do vậy hôn nhân giữa chị B và anh K được công nhận là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị B, anh K hạnh phúc được khoảng thời gian 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn tới mâu thuẫn là vợ chồng không hợp nhau về tính cách, không có con chung, từ đầu năm 2021 đến nay vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm tới ai nữa. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh K mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được tòa án tống đạt thông báo hòa giải nhưng anh K không đến tòa án làm việc hòa giải, chứng tỏ anh K không có thiện chí hòa giải để đoàn tụ vợ chồng. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị B là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[3]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chị B, anh K không có con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị B không đề nghị tòa án giải quyết.

Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[5]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị B phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 5; Điều 147; Điều 227, Điều 228 ; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Xử: cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Bùi Văn K.

2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chị B đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0003319 ngày 19/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan nay chuyển sang án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị B, anh K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

232
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn số 36/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:36/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 16/08/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;