Bản án về ly hôn số 1052/2021/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1052/2021/HNGĐ-ST NGÀY 29/04/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 29/4/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1171/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2020, về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1343/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đinh Thị N, sinh năm 1982 Địa chỉ: số nhà 176/8 Đường X, Khu phố Y, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1973 Hộ khẩu TT: Xóm 5 xã G, huyện G1, tỉnh Nam Định.

Địa chỉ: số nhà 176/8 Đường X, Khu phố Y, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 11 năm 2020 và lời trình bày của bà Đinh Thị N:

Bà và ông Hoàng Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G1, tỉnh Nam Định vào ngày 24/6/2000. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2009 phát sinh mâu thuẫn do không còn hòa hợp, ông T thiếu quan tâm và không chia sẻ trách nhiệm với bà trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Mâu thuẫn xảy ra trong thời gian dài, vợ chồng đã cố gắng nhưng không khắc phục được. Đến nay thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu, không còn tình cảm yêu thương lẫn nhau nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hoàng Văn T.

Con chung: có ba con tên Hoàng Thị Hồng N, sinh ngày 17/6/2001, Hoàng Văn Q, sinh ngày 09/3/2003 (đã trưởng thành) và Hoàng Thị H, sinh ngày 05/12/2005. Bà yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Hoàng Thị H và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: không có.

Tại bản tự khai ngày 14 tháng 12 năm 2020, ông Hoàng Văn T trình bày: Theo ông cuộc sống chung của vợ chồng bình thường, năm 2006 vợ chồng thường xảy ra tranh cãi do kinh tế khó khăn. Từ đó tình cảm lạnh nhạt dần và hai bên không còn sự chia sẻ, quan tâm đến nhau. Ông nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc nên ông đồng ý ly hôn với bà N.

Về con chung: các con tên Hoàng Thị Hồng N, sinh ngày 17/6/2001, Hoàng Văn Q, sinh ngày 09/3/2003 (đã trưởng thành), ông đồng ý giao con Hoàng Thị H, sinh ngày 05/12/2005 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Nợ chung: Không có.

Ông yêu cầu được vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện.

Tại phiên tòa, bà Đinh Thị N giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Hoàng Văn T và yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Thị H. Ông Hoàng Văn T có đơn yêu cầu vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Toà án đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Đinh Thị N được ly hôn ông Hoàng Văn T. Giao con chung Hoàng Thị H, sinh ngày 05/12/2005 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn”. Do bị đơn cư trú tại thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về nội dung: xét, bà Đinh Thị N và ông Hoàng Văn T có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện G1, tỉnh Nam Định theo giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 24/6/2000 nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T không còn khả năng hàn gắn tình cảm, xây dựng hạnh phúc gia đình, vợ chồng không còn sự quan tâm và trách nhiệm đối với nhau trong thời gian dài. Đến nay bà N yêu cầu ly hôn và ông T cũng đồng ý, tuy nhiên do ông T yêu cầu vắng mặt nên Tòa án không thể ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn. Vì vậy yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận.

Con chung: Căn cứ lời khai của bà N, ông T phù hợp với các bản sao trích lục khai sinh số 63/TLKS-BS ngày 01/3/2016; số 94/TLKS-BS ngày 11/3/2016 và trích lục khai sinh số 289/TLKS-BS ngày 10/7/2019 của Uỷ ban nhân dân xã G, huyện G1, tỉnh Nam Định cấp, đủ căn cứ xác định bà N và ông T có ba người con chung, các con Hoàng Thị Hồng N, Hoàng Văn Q đã trưởng thành. Bà N có yêu cầu trực tiếp nuôi con Hoàng Thị H, ông Hoàng Văn T đồng ý, phù hợp với nguyện vọng của con được sống chung với mẹ. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của con cần giao con chung Hoàng Thị H cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét. Nợ chung: đương sự xác định không có nợ chung.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: bà N phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị N; Bà Đinh Thị N được ly hôn ông Hoàng Văn T.

2. Con chung: Giao con Hoàng Thị H (nữ), sinh ngày 05/12/2005 cho bà Đinh Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Hoàng Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng.

3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí sơ thẩm: Bà Đinh Thị N phải chịu án phí ly hôn 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0058185 ngày 11/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (đã nộp đủ).

5. Quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các điều 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

211
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn số 1052/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:1052/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân TP. Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;