TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 826/2023/HC-PT NGÀY 08/08/2023 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI BỒI THƯỜNG, CƯỠNG CHẾ KHI THU HỒI ĐẤT
Trong các ngày 08 tháng 08 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 29/2022/TLPT-HC ngày 17/11/2022 về “QHPL_DAY_DU" Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về cưỡng chế khi thu hồi đất.
Do Bản án sơ thẩm số 02/2022/HC-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố H cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2864/2023/QĐXX-PT ngày 26 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 944/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1974 Địa chỉ: I Hồ N, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 07/5/2014: Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1974. Địa chỉ: I Hồ N, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Quốc A, Văn phòng Luật sư Phạm Quốc H1.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh Địa chỉ trụ sở: Số C T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo Giấy ủy quyền số 607/UQ-UBND ngày 27/4/2021: Ông Trương Tấn S, Phó Chủ tịch. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn T, Trưởng Ban bồi thường giải phóng mặt bằng.
3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thúy V. Có mặt: Ông H, Luật sư Quốc A1, ông T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung bản án sơ thẩm thì:
Trong các đơn khởi kiện ngày 08/5/2014, tại các bản tự khai, biên bản đối thoại, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện - ông Nguyễn Hồng H trình bày:
Gia đình bà Nguyễn Thị Thúy V đang thực tế sống tại số I Hồ N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 19/7/2005, Ủy ban nhân dân Thành phố H (viết tắt UBND Thành phố H) ban hành Quyết định 3585/QĐ-UBND điều chỉnh quy hoạch tuyến đường từ một đường rộng 60 mét thành hai nhánh rẽ trong đó có nhánh rẽ theo đường H.
Để thực hiện xây dựng tuyến đường T - B theo phương án mới của Ủy ban nhân dân Thành phố H, Ủy ban nhân dân quận T đã ban hành Quyết định 778/QĐ-UBND ngày 24/10/2018 và Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 19/8/2013 thu hồi một phần diện tích đất là 36,25m² tại số I Hồ N, Phường B, quận T (thuộc thửa đất 91, tờ bản đồ số 28 (B), Phường B, quận T); ngày 25/02/2016, UBND quận T tiếp tục ban hành quyết định 69/QĐ-UBND thu hồi bổ sung 8,5m², tổng cộng thu hồi 44,75m² đất thuộc thửa đất 91, tờ bản đồ số 28 (BĐĐC), tại số I, Hồ N, Phường B, quận T.
Nhận thấy, việc thu hồi đất của Ủy ban nhân dân quận T (viết tắt UBND quận T) là không có căn cứ pháp lý nên gia đình bà V và các hộ lân cận đã khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền. Tại Kết luận số 158/KL-TTCP ngày 30/01/2011 có nội dung về khiếu nại của ông Nguyễn Hồng H (số I đường H, Phường B, quận T) là “Gia đình ông H và các hộ dân liền kề trước đây (trước khi có Quyết định số 3585/QĐ-UBND) không nằm trong quy hoạch xây dựng tuyến đường, nên nhà của gia đình ông H và các hộ bị giải tỏa là ngoài dự kiến. Vì vậy, cùng với việc vận động gia đình ông H thực hiện chủ trương của Thành phố, chấp hành việc giải tỏa bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án, đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố H) có chính sách bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng cho gia đình ông H và các hộ liền kề”.
Tuy nhiên, ngày 12/3/2014, UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định cưỡng chế số 28/QĐ-CC về việc cưỡng chế thi hành Quyết định về thu hồi đất thực hiện dự án đường N - B - Vành đai ngoài là Quyết định số 778/QĐ-UBND ngày 24/10/2008 và Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 19/8/2013 của UBND quận T.
Ngày 05/5/2015, UBND Thành phố H chỉ đạo UBND quận T thực hiện Thông báo 57/TB-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố H về thông báo kết quả giải quyết tố cáo để giải quyết quyền lợi cho gia đình ông H nhưng lại UBND quận T chậm thực hiện và tiến hành cưỡng chế nên gia đình ông H phải đồng ý bàn giao phần diện tích đất phải thu hồi.
Ngày 06/9/2016, gia đình bà V nhận được Quyết định số 467/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 UBND quận T về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định cưỡng chế số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của UBND quận T và Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 16/3/2015 của UBND quận T có nội dung lý do thu hồi là do gia đình bà V tự nguyện bàn giao mặt bằng. Ông H khẳng định đây là hành động thiện chí để sớm hoàn thành con đường và tôn trọng pháp luật, bà V vẫn bảo lưu việc kiện Quyết định cưỡng chế số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của UBND quận T.
Như vậy, UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh chưa thực hiện Điều 4.1 tại Kết luận số 158/KL-TTCP ngày 30/01/2011 đã chỉ đạo xử lý mà đã ban hành Quyết định cưỡng chế số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 là trái với ý kiến của Thanh tra Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nên bà V khởi kiện UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án:
1. Hủy Quyết định cưỡng chế số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của UBND quận T ban hành, đồng thời yêu cầu UBND quận T thực hiện đúng kết luận của Thanh tra Chính phủ và ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về chính sách bồi thường thỏa đáng cho gia đình bà V.
2. Do quyết định thu hồi đất ban hành bị sai đã được UBND Thành phố H khẳng định trong Thông báo số 57/TB-UBND ngày 05/5/2015 nên ông yêu cầu UBND quận T xem xét các yêu cầu sau:
- Áp dụng đơn giá đền bù đất bị thu hồi theo đơn giá tại thời điểm thu hồi là tháng 12/2014 hoặc có thể áp dụng đơn giá 68.493.000 đồng/m², với diện tích đất bị thu hồi 36,25m². Ông H đề nghị UBND quận T áp dụng đơn giá 68.493.000 đồng/m² với phần diện tích đất bị thu hồi 36,25m². Nay ông H xác định yêu cầu về phần đất bồi thường áp dụng giá đất đền bù đối với 36,25m² ông H không có ý kiến và không yêu cầu giải quyết. Riêng 8,5m² đất thu hồi theo quyết định 69/QĐ-UBND ngày 25/02/2016 của UBND quận T áp dụng đơn giá bồi thường 32.000.000 đồng là không phù hợp. Yêu cầu phải áp dụng giá bồi thường tại thời điểm có quyết định thu hồi đất năm 2016 là mới đúng quy định.
- Đơn giá xây dựng áp dụng đối với sửa chữa nhà khi bị thu hồi một phần áp dụng từ năm 2008 là quá thấp. Tiền hỗ trợ sửa chữa nhà bị khấu trừ vào tiền đền bù là không đúng. Các thiệt hại yêu cầu UBND bồi thường gồm:
+ Sân gạch 5,46m²: 2.730.000 đồng + Rào khung sắt 2,75m²: 1.439.200 đồng + Nhà tường gạch, cột đà bê tông, mái tôn: 614.034.000 đồng + Hỗ trợ sửa chữa nhà: 322.870.000 đồng.
Theo Phương án số 162 thì giá trị vật chất của căn nhà sau khi đập bỏ là 216.494.200 đồng. Theo chủ trương của UBND Thành phố H thì dự toán cải tạo nhà là 322.870.000 đồng. Việc UBND quận T trừ đi số tiền 216.494.200 đồng của gia đình ông, thực tế chỉ nhận được 106.375.800 đồng là không đúng.
- Một phần tài sản gắn liền với đất là cửa nhà, cây cảnh bị hư hại, mất mát ước tính khoảng 45.500.000 đồng.
Đề nghị UBND quận T xem xét bồi thường thêm cho gia đình bà, sau khi trừ đi phần tiền đã được nhận là 3.652.627.164 đồng, số tiền bà V yêu cầu UBND quận bồi thường thêm là 550.131.000 đồng cộng với lãi suất ngân hàng tính từ thời điểm năm 2011 đến khi bà V nhận được tiền bồi thường này và phần lãi của diện tích đất bổ sung 8,50m² chưa được tính kể từ tháng 9/2013.
Đồng thời, yêu cầu cần thiết hủy quyết định 19/QĐ-UBND ngày 4/01/2008 của UBND Thành phố H về thu hồi đất đai tại các quận T, G, B và T về tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng chuẩn bị đầu tư xây dựng tuyến đường T - B - Vành đai ngoài là quyết định hành chính ban hành trái pháp luật (Ông H nêu yêu cầu nhưng không có đơn yêu cầu cụ thể).
Tại Tòa án cấp sơ thẩm người bị kiện là UBND quận T, Thành phố H bày:
Về căn cứ pháp lý khi thực hiện việc thu hồi 44,75 m² đất thuộc thửa đất 91, tờ bản đồ số 28 (BĐĐC), tại số I, Hồ N, Phường B, quận T tại các Quyết định 778/QĐ-UBND ngày 24/10/2018 và Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 19/8/2013; Quyết định 69/QĐ-UBND ngày 25/02/2016 của UBND quận T dựa trên các quyết định sau:
- Quyết định số 3585/QĐ-UBND ngày 19/7/2005 của UBND Thành phố H về phê duyệt quy hoạch về phương án tuyến dự án xây dựng đường T - B vành đai ngoài;
- Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 04/01/2008 của UBND Thành phố H về thu hồi đất tại các quận T, G, B và T để tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị đầu tư xây dựng tuyến đường T - B - vành đai ngoài.
- Tại Kết luận Thanh tra số 158/KL-TTCP ngày 30/01/2011 về việc xác minh làm rõ nội dung, phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài (Thành phố Hồ Chí Minh) có nội dung: “Cho phép Ủy ban nhân dân Thành phố H tiếp tục triển khai dự án T - B - Vành đai ngoài theo hướng giữ nguyên quy hoạch phương án tuyến, theo Quyết định 3585/QĐ-UBND ngày 19/7/2005 của UBND Thành phố H”. Ngày 23/3/2011, Văn phòng C ban hành Văn bản số 1753/VPCP-KNTN về việc xử lý sau thanh tra việc phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài (Thành phố Hồ Chí Minh), trong đó, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh T1 đồng ý cơ bản nội dung kết luận và kiến nghị tại Kết luận Thanh tra số 158/KL-TTCP ngày 30/01/2011 của Thanh tra Chính phủ về việc xác minh, làm rõ nội dung phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài (Thành phố Hồ Chí Minh). Như vậy, về pháp lý thu hồi đất Thủ tướng Chính phủ đã cho phép UBND Thành phố H tiếp tục thực hiện dự án theo phương án tuyến được phê duyệt theo Quyết định 3585/QĐ-UBND ngày 19/7/2005 của UBND Thành phố H.
Thực hiện Kết luận Thanh tra Chính phủ và chỉ đạo của UBND Thành phố H, ngày 13/6/2012, Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố có công văn số 456/HĐTĐBT-KTĐ gửi UBND thành phố về việc giải quyết khiếu nại của các hộ dân trong dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài trên địa bàn Phường B, quận T. Trong đó có Phương án 1 (Phương án chọn): Xác định lại giá đất cho phù hợp với giá chuyển nhượng thị trường trong điều kiện bình thường tại thời điểm Thủ tướng Chính phủ chấp thuận kiến nghị của Thanh tra Chính phủ và cộng lãi suất đến thời điểm ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. UBND Thành phố H đã có văn bản chấp thuận tại Công văn số 5653/VP-PCNC về xử lý khiếu nại thuộc Dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài: “Giao Sở Giao thông vận tải, UBND quận T khẩn trương thực hiện theo ý kiến của Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố tại công văn số 456/HĐTĐBT-KTĐ ngày 13/6/2012.” Ngày 21/9/2012, Sở G có Công văn số 14915/SGTVT-XD về việc xác định các hộ dân trên địa bàn quận T bị ảnh hưởng bởi Dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài cần có chính sách hỗ trợ, trong đó thống nhất: “Hỗ trợ thêm được xác định từ ranh lộ giới đường H thể hiện trong giấy chứng nhận đến ranh thực hiện dự án”.
Do đó, UBND quận T đã ban hành Quyết định số 440/QĐ-UBND ngày 19/9/2013 về bồi thường, hỗ trợ và hỗ trợ thêm trong Dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài, trong đó phê duyệt Phương án số 287/HĐBT ngày 09/9/2013, cụ thể bồi thường, hỗ trợ về đất:
- Diện tích đất nằm trong ranh quy hoạch lộ giới đường H: Tính bồi thường 100% theo đơn giá 32.000.000 đồng/m².
- Diện tích phần điều chỉnh tim đường H: Tính bồi thường 100% theo đơn giá 68.493.000 đồng/m² (tại thời điểm chính phủ chấp thuận kiến nghị của Thanh tra Chính phủ tháng 3/2011).
Hỗ trợ lãi suất tính từ thời điểm Chính phủ chấp thuận kết luận của Thanh tra Chính phủ đến ngày UBND ban hành Quyết định 440/QĐ-UBND ngày 19/9/2013 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với hỗ trợ lãi suất: 438.950.800 đồng.
Tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ và lãi suất đối với hộ bà V là: 1.873.182.440 đồng gồm:
- Bồi thường, hỗ trợ và hỗ trợ thêm về nhà ở và đất ở là 1.434.231.640 đồng (chênh lệch tăng thêm 834.231.640 đồng so với phương án được phê duyệt 600.000.000 đồng).
- Hỗ trợ lãi suất: 438.950.800 đồng.
Hộ bà V đã đồng ý nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng thực hiện dự án vào ngày 14/12/2015. Do đó, ngày 29/7/2016, chủ tịch UBND quận T đã ban hành Quyết định số 467/QĐ-UBND quận T về thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014. Do đó, UBND quận T đề nghị Tòa án giữ nguyên các Quyết định hành chính của UBND quận T và không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là ông Trương Tấn S có đơn xin vắng mặt đề ngày 15/8/2022 có nội dung giữ nguyên ý kiến không đồng ý với các yêu cầu của người khởi kiện.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Nguyễn Tấn T vắng mặt, nhưng có gửi Bản trình bày:
+ Đối với việc UBND quận T thu hồi 8,50m² đất áp dụng đơn giá 32.000.000 đồng/m² theo Quyết định số 69/UBND ngày 25/12/2016;
Phần diện tích đất 8,50m² không được ghi nhận trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 33389/2001 ngày 31 tháng 12 năm 2001, thuộc phần diện tích phía trước nhà nằm trong ranh quy hoạch lộ giới đường H nên được áp dụng đơn giá 32.000.000 đồng/m². Đây là đơn giá áp dụng cho toàn dự án theo Công văn số 598/UBND-ĐTMT ngày 24 tháng 01 năm 2008 của UBND Thành phố H.
Ngày 25 tháng 02 năm 2016, UBND quận T ban hành Quyết định số 69/QĐ-UBND bổ sung Điều 1 Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm 2013 của UBND quận T. Bổ sung thu hồi thêm phần diện tích 8,50m (tổng diện tích đất thu hồi là 44,75m²).
Ngày 29 tháng 02 năm 2016, UBND quận T ban hành Quyết định số 70/QĐ-UBND về bồi thường bổ sung là 272.924.300 đồng, theo Bảng tính số 40/HĐBT ngày 26 tháng 02 năm 2016.
+ Bồi thường, hỗ trợ về đất: 8,50m² x 32.000.000 đồng = 272.000.000 đồng.
+ Bồi thường về công trình xây dựng là 924.300 đồng.
Do phần diện tích này được thu hồi bổ sung theo Quyết định số 69/QĐ-UBND ngày 25 tháng 02 năm 2016. Vì vậy, ngày 07 tháng 3 năm 2016, UBND quận T ban hành Quyết định số 82/QĐ-UBND duyệt chi hỗ trợ lãi suất với phần 8,50m² số tiền là 175.271.210 đồng, theo Bảng tính số 44/HĐBT ngày 7 tháng 3 năm 2016 (hỗ trợ lãi suất tính từ năm 2008 đến năm 2013).
+ Theo chủ trương của UBND Thành phố H thì dự toán cải tạo nhà là 322.870.000 đồng theo Phương án bồi thường số 162/HĐBT ngày 15/8/2016. Việc UBND quận T trừ đi số tiền 216.494.200 đồng của gia đình bà V và hỗ trợ thêm 106.375.800 đồng là phù hợp.
Bồi thường, hỗ trợ về nhà và công trình:
- Phần nhà, công trình trong ranh dự án thuộc phạm vi thu hồi:
+ Sân thượng có mái che trang trí 21,25m² với số tiền là 19.337.550 đồng.
+ Nhà tường gạch, cột-đà-sàn BTCT 17,81m² với số tiền là 47.463.650 đồng.
+ Nhà tường gạch, cột-đà-sàn BTCT, mái tôn, trần (trong ranh thu hồi đất, ngoài ranh lộ giới đường H) 34,44m² với số tiền là 91.782.600 đồng.
- Phần nhà, kiến trúc ngoài ranh bị ảnh hưởng kết cấu tính tới cột chịu lực gần nhất (không thuộc phạm vi thu hồi):
+ Nhà tường gạch, cột-đà-sàn BTCT, mái tôn, trần 21,73m² với số tiền 57.910.450 đồng.
Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 216.494.250 đồng.
Như vậy, khi thu hồi đất theo chủ trương bồi thường phần nhà và công trình xây dựng với số tiền 216.494.250 đồng là đúng quy định.
Tuy nhiên, bà V có đơn kiến nghị cần có chính sách hỗ trợ thêm do không đủ kinh phí sửa chữa nhà. Ngày 17 tháng 6 năm 2016 Hội đồng thẩm định bồi thường Thành phố có Công văn số 391/HĐTĐBT-TTr hướng dẫn việc xét hỗ trợ thêm chi phí để sửa chữa lại nhà theo hiện trạng và bàn giao mặt bằng đúng ranh thu hồi.
Ngày 28 tháng 7 năm 2016 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án đã họp xác định chi phí hỗ trợ thêm để tháo dỡ sửa chữa lại nhà theo hiện trạng và bàn giao mặt bằng của 04 trường hợp trong dự án.
Về kinh phí hỗ trợ thêm để tháo dỡ, sửa chữa xây dựng lại theo hiện trạng do 04 trường hợp đã được tính bồi thường phần nhà công trình trong phạm vi thu hồi đất theo quy định của phương án bồi thường.
Vì vậy, M hỗ trợ thêm = giá trị dự toán chi phí tháo dỡ, sửa chữa xây dựng lại theo hiện trạng - giá trị đã bồi thường, hỗ trợ phần nhà theo quy định của phương án bồi thường (không trừ phần giá trị bồi thường phần: sân, tường rào, cổng rào).
Đây là chính sách hỗ trợ đặc thù của Thành phố đối với trường hợp này. Do đó, UBND quận T đã tính đúng quy định và hỗ trợ thêm cho gia đình ông H sửa chữa nhà là chính sách vừa bồi thường vừa hỗ trợ thêm. Vì vậy, ngày 15 tháng 8 năm 2016 UBND quận T ban hành Quyết định số 475/QĐ-UBND hỗ trợ thêm số tiền là 106.375.800 đồng.
+ Về ý kiến của bà V đơn giá xây dựng áp dụng đối với sửa chữa nhà khi bị thu hồi một phần áp dụng từ năm 2008 là quá thấp.
Căn cứ Quyết định 646/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2009 của UBND quận T về phê duyệt Phương án số 165/PA-HĐBT ngày 19 tháng 4 năm 2009 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án đường N - B - Vành đai ngoài trên địa bàn Phường B, quận T.
Theo đó, bồi thường nhà ở, công trình và vật kiến trúc khác, đơn giá áp dụng theo Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND ngày 20 tháng 02 năm 2008 về ban hành biểu giá chuẩn về suất vốn đầu tư phần xây dựng công trình trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định số 64/2008/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2008 về việc điều chỉnh bổ sung một số nội dung tại Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND ngày 20 tháng 02 năm 2008 và Quyết định số 92/2008/QĐ-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2008 của UBND Thành phố H ban hành hệ số điều chỉnh khi áp dụng Quyết định số 12/2008/QĐ-UBND ngày 20 tháng 02 năm 2008 và Quyết định số 64/2008/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2008 của UBND Thành phố H.
Ủy ban nhân dân quận T ban hành các quyết định phê duyệt bảng tính bồi thường, hỗ trợ tài sản bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án và áp dụng đơn giá về giá trị xây dựng là đúng quy định.
Tại Bản án sơ thẩm số 02/2022/HC-ST ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố H tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T2: bác yêu cầu của ông T2 về việc hủy Công văn số 2066/UBND-TNMT và Công văn số 455/UBND -TNMT; Bác yêu cầu của ông T2 về việc UBND quận B toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy V về yêu cầu:
- Hủy quyết định số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của Ủy ban nhân dân quận T về việc cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất thực hiện dự án đường N - B - vành đai ngoài trên địa bàn quận T.
- Yêu cầu về áp dụng giá bồi thường 32.000.000 (ba mươi hai triệu) đồng đối với diện tích đất thu hồi 17,50m².
- Yêu cầu về áp dụng giá bồi thường tại thời điểm có quyết định thu hồi đất năm 2016 đối với 8,50m² đất thu hồi, theo Quyết định 69/QĐ-UBND ngày 25/02/2016 của Ủy ban nhân dân quận T.
- Yêu cầu Ủy ban nhân dân quận T bồi thường các thiệt hại gồm:
+ Sân gạch 5,46m²: 2.730.000 (Hai triệu bảy trăm ba mươi ngàn) đồng;
+ Rào khung sắt 2,75 m²: 1.439.200 (Một triệu bốn trăm ba mươi chín ngàn hai trăm) đồng;
+ Nhà tường gạch, cột đà bê tông, mái tôn: 614.034.000 (Sáu trăm mười bốn triệu không trăm ba mươi bốn ngàn) đồng;
+ Hỗ trợ sửa chữa nhà: 322.870.000 (Ba trăm hai mươi hai triệu tám trăm bảy mươi ngàn) đồng.
+ Một phần tài sản gắn liền với đất là cửa nhà, cây cảnh bị hư hại, mất mát ước tính khoảng 45.500.000 (Bốn mươi lăm triệu năm trăm ngàn) đồng.
+ Yêu cầu UBND quận T bồi thường thêm cho gia đình bà V số tiền 550.131.000 (Năm trăm năm mươi triệu một trăm ba mươi mốt ngàn) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về việc miễn án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/9/2022, người khởi kiện kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện người kháng cáo trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V.
Người bị kiện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày: Ngày 29/7/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T ban hành Quyết định số 467/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định cưỡng chế số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của UBND quận T và Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 16/3/2015 của UBND quận T là do gia đình bà V tự nguyện bàn giao mặt bằng nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của bà V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc giải quyết vụ án hành Chính phúc thẩm nêu trên của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp với Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, đề nghị y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến tranh luận của các đương sự; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Người khởi kiện nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định.
[1.2]. Quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng.
[1.4].Về sự có mặt của đương sự. Người bị kiện có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ vào quy định tại Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự.
[2].Về yêu cầu khởi kiện.
Bà Nguyễn Thị Thúy V khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy quyết định số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của UBND quận T ban hành về việc cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất thực hiện dự án đường N - B - Vành đai ngoài trên địa bàn quận T [3]. Xét kháng cáo của đương sự.
[3.1]. Xét trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện.
Quyết định số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 về cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được UBND quận T ban hành đúng thẩm quyền và trình tự ban hành theo quy định tại Điều 38, 39 Luật Đất đai 2003 và Điều 66; 69; 71 và Điều 74 Luật Đất đai năm 2013.
[3.2]. Xét về nội dung.
[3.2.2] Đối với kháng cáo đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện hủy quyết định số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của UBND quận T thấy:
Để thực hiện dự án tuyến đường T - Bình lợi - Vành đai ngoài được UBND Thành phố H phê duyệt tại Quyết định số 2464/QĐ-UB-QLĐT ngày 22/5/1996 và được Thủ tướng chính phủ chấp thuận tại văn bản số 4757/KTN ngày 12/9/1997.
Ngày 19 tháng 7 năm 2005, UBND Thành phố H ban hành Quyết định số 3585/QĐ-UBND về duyệt quy hoạch phương án tuyến dự án xây dựng đường T - B - Vành đai ngoài.
Ngày 04 tháng 01 năm 2008, UBND Thành phố H ban hành Quyết định số 19/QĐ-UBND về thu hồi đất tại các quận T, G, B và T để tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị đầu tư xây dựng tuyến đường T - B - Vành đai ngoài.
Ngày 14 tháng 7 năm 2009, UBND quận T ban hành Quyết định 646/QĐ-UBND về phê duyệt Phương án số 165/PA-HĐBT ngày 19 tháng 4 năm 2009 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án đường N - B - Vành đai ngoài trên địa bàn Phường B, quận T.
Ngày 30 tháng 01 năm 2011, Thanh tra Chính phủ ban hành Kết luận Thanh tra số 158/KL-TTCP về việc xác minh làm rõ nội dung phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến dự án đường T - B - Vành đai ngoài (Thành phố Hồ Chí Minh). Trong đó, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ: “Cho phép Ủy ban nhân dân Thành phố H tiếp tục triển khai dự án đường T - B - Vành đai ngoài theo hướng giữ nguyên quy hoạch phương án tuyến theo Quyết định số 3585/QĐ-UBND ngày 19 tháng 7 năm 2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố H”.
Ngày 23 tháng 3 năm 2011, Văn phòng Chính phủ ban hành Văn bản số 1753/VPCP-KNTN về việc xử lý sau thanh tra việc phản ánh, khiếu nại, tố cáo liên quan đến dự án đường T - B - Vành đai ngoài Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: “Ủy ban nhân dân Thành phố H chỉ đạo tiếp tục thực hiện dự án đường T - B - vành đai ngoài theo Hợp đồng bồi thường đã ký, không phải phê duyệt lại dự án”.
Ngày 10 tháng 4 năm 2012, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 133/TB-VPCP ý kiến kết luận, xử lý sau thanh tra dự án đường T - B - Vành đai ngoài Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó UBND Thành phố H tiếp tục thực hiện dự án đường T - B - vành đai ngoài theo hợp đồng bồi thường đã ký, không phải phê duyệt lại dự án.
Căn cứ Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 04 tháng 01 năm 2008 của UBND Thành phố về thu hồi đất tại các quận T, G, B và T để tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị đầu tư xây dựng tuyến đường T - B - Vành đai ngoài.
Ngày 24 tháng 10 năm 2008, UBND quận T ban hành Quyết định số 778/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến đường T - B - Vành đai ngoài trên địa bàn quận T.
Ngày 19 tháng 8 năm 2013, UBND quận T ban hành Quyết định số 42/QĐ-UBND sửa đổi Quyết định số 778/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2008.
Ngày 25 tháng 02 năm 2016, UBND quận T ban hành Quyết định số 69/QĐ-UBND bổ sung Điều 1 Quyết định số 42/QĐ-UBND ngày 19 tháng 8 năm 2013 của UBND quận T.
Do đó, UBND quận T ban hành các quyết định thu hồi đất nêu trên là cần thiết, thực hiện theo chủ trương, phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt.
Quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đã được UBND quận T ban hành, phê duyệt đúng quy định. Do phía gia đình bà V không thực hiện theo các quyết định thu hồi đất, nên ngày 12 tháng 3 năm 2014, UBND quận T ban hành Quyết định số 28/QĐ-CC về cưỡng chế thực hiện Quyết định thu hồi đất thực hiện dự án đường N - B - Vành đai ngoài trên địa bàn quận T là phù hợp với khoản 3 Điều 39 Luật Đất đai năm 2003, cụ thể quy định như sau “Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành Quyết định thu hồi đất thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế”.
Ngày 29 tháng 7 năm 2016, Ủy ban nhân dân quận T ban hành Quyết định số 467/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 12 tháng 3 năm 2014 và Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 16 tháng 3 năm 2015 của UBND quận T với lý do bà V đã tự nguyện bàn giao phần nhà, đất bị thu hồi. Do vậy, quyết định này không còn hiệu lực để thực hiện, tuy nhiên bà V không yêu cầu hủy Quyết định số 467/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 mà vẫn giữ yêu cầu cầu hủy Quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 12 tháng 3 năm 2014. Như vậy, việc UBND quận T ban hành Quyết định 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 là đúng quy định pháp luật. Nên, xét thấy bà V yêu cầu Tòa án hủy Quyết định 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 của UBND quận T trái pháp luật là không có cơ sở. Vì vậy, xét kháng cáo của bà V yêu cầu hủy Quyết định 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 là không có cơ sở chấp nhận.
Lý do để yêu cầu hủy Quyết định 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 là phải bồi thường toàn bộ diện tích đất bị thu hồi 36,25m² gồm trong ranh thu hồi là 17,50m² và ngoài ranh thu hồi là 18,75m² phải bồi thường theo đơn giá là 68.493.000 đồng xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm ông H có ý kiến là chỉ yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014, không có ý kiến hay yêu cầu bồi thường về giá, vì vậy chỉ xem xét về trình tự, thủ tục cưỡng chế. Đồng thời, bà V cho rằng do quyết định cưỡng chế sai từ việc các áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật sai, dẫn đến thu hồi, ban hành phương án sai là không phù hợp. Nên, xét kháng cáo với lý do này của bà V là không có cơ sở chấp nhận.
[3.2.2] Đối với kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 04 tháng 01 năm 2008 của UBND Thành phố H thấy:
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định như sau “1. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính Nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”.
Như vậy, Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 04 tháng 01 năm 2008 của U về việc thu hồi đất tại các quận T, G, B và T để tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị đầu tư xây dựng tuyến đường T - B - Vành đai ngoài, đây là quyết định mang tính chất nội bộ, không phải đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Xét thấy, việc bà V yêu cầu hủy Quyết định này là không phù hợp quy định pháp luật nên không xem xét.
Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bà V là không có cơ sở chấp nhận.
[3.3]. Người khởi kiện kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
[5]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4]. Về án phí hành Chính phúc thẩm: Người khởi kiện phải chịu.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn khoản 1 Điều 241 và Điều 242 Luật Tố tụng hành chính.
- Căn cứ Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thúy V. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2022/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện về việc hủy Quyết định số 28/QĐ-CC ngày 12/3/2014 về cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất được UBND quận T.
2. Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy V phải chịu án phí hành chính sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) theo biên lai số AD/2012/06808 ngày 19/5/2014 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Án phí hành Chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy V phải chịu án phí hành chính sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AD/2021/0031999 ngày 27/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.
4. Bản án hành Chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án../
Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai bồi thường, cưỡng chế khi thu hồi đất số 826/2023/HC-PT
| Số hiệu: | 826/2023/HC-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Ngày ban hành: | 08/08/2023 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về