TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 562/2022/HC-ST NGÀY 06/05/2022 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH, HÀNH VI HÀNH CHÍNH
Trong các ngày 28 tháng 4 và ngày 06 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2020/TLST-HC ngày 26 tháng 6 năm 2020 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1363/2022/QĐXXST-HC ngày 08 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3985/2022/QĐST-HC ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thu Y Địa chỉ: Số C L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quý T Địa chỉ liên lạc: 31 Đường số A, Khu phố E, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân Quận A - Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A Địa chỉ: Số A, L, Phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn Đ - Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có mặt tại phiên tòa; người bị kiện vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thu Y và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà Nguyễn Thu Y làm thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp trồng cây hàng năm sang đất ở với diện tích ngoài hạn mức đất ở là 1298,2m² tại thửa đất số 695, tờ bản đồ số 55, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng 1298,2m² đất là 2.431.632.456 đồng. Do bà Y đang phải nuôi hai con nhỏ bị khuyết tật (có giấy chứng nhận khuyết tật), bản thân là chuyên viên công tác tại cơ quan nhà nước, kinh tế khó khăn nên ngày 02 tháng 7 năm 2019 bà Y làm đơn ghi nợ tiền sử dụng đất. Ngày 10 tháng 7 năm 2019, Phòng T1 phát hành Phiếu bổ sung hoàn thiện hồ sơ yêu cầu bà Y phải có “xác nhận hoàn cảnh khó khăn của địa phương về tài chính” mới được xem xét ghi nợ. Theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân Quận A bà Y đã liên hệ với Ủy ban nhân dân Phường B, Quận A để làm thủ tục xác nhận “khó khăn về tài chính” nhưng được trả lời Ủy ban nhân dân phường B không có chức năng xác nhận khó khăn về kinh tế mà chỉ có chức năng xác nhận hộ nghèo và hộ cận nghèo. Ngày 01 tháng 10 năm 2019 bà Y tiếp tục có đơn đề nghị được ghi nợ thuế nhưng không được chấp nhận. Cụ thể, Ủy ban nhân dân Quận A đã ban hành Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 29 tháng 11 năm 2019 với nội dung:
“Đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất của bà Nguyễn Thu Y chỉ có xác nhận chữ ký của UBND phường B, Quận A, chưa có xác nhận của UBND phường về việc có khó khăn về tài chính.
Do đó, UBND Quận không có cơ sở để giải quyết hồ sơ ghi nợ nộp ngày 16 tháng 7 năm 2019 và Đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thu Y (theo phiếu chuyển số 811/PC-TCD ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Ban Tiếp công dân).
A đề nghị bà Nguyễn Thu Y khẩn trương thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của ngành thuế.” Sau khi nhận được Văn bản trên bà Y đã khiếu nại và được Ủy ban nhân dân Quận A giải quyết khiếu nại bằng Quyết định giải quyết khiếu nại số 790/QĐ-UBND ngày 28 tháng 02 năm 2020 không công nhận đơn khiếu nại của bà Y, giữ nguyên nội dung công văn số 12458/UBND-TNMT ngày 29 tháng 11 năm 2019.
Nay người khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 790/QĐ-UBND ngày 28 tháng 02 năm 2020 đồng thời buộc Ủy ban nhân dân Quận A cho người khởi kiện được nợ tiền sử dụng đất theo quy định.
Tại phiên tòa, người khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét tính hợp pháp của Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Quận A và từ chối đối thoại về yêu cầu xem xét tính hợp pháp của Văn bản trên, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Người bị kiện, Ủy ban nhân dân Quận A và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A trình bày như sau:
Ngày 07 tháng 7 năm 2019, bà Nguyễn Thu Y có đơn ghi nợ tiền sử dụng đất đối với thửa đất số 695, tờ bản đồ số 55, phường T, Quận A. Ngày 29 tháng 11 năm 2019 Ủy ban nhân dân Quận A có Văn bản số 12458/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn của bà Nguyễn Thu Y đề nghị ghi nợ tiền sử dụng đất tại phường T, Quận A. Không đồng ý với nội dung Văn bản số 12458/UBND-TNMT bà Nguyễn Thu Y đã khiếu nại. Ngày 28 tháng 02 năm 2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A có Quyết định số 790/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thu Y; theo đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A không công nhận nội dung đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thu Y; giữ nguyên nội dung Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Quận A.
Người bị kiện đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa: Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và phát biểu ý kiến về lý do khởi kiện:
- Thứ nhất: Các văn bản pháp luật quy định về điều kiện thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất không có quy định nào yêu cầu hộ gia đình, cá nhân phải nộp tài liệu, giấy tờ xác nhận có khó khăn về tài chính mà chỉ yêu cầu nộp một trong hai loại là đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin chuyển mục đích hoặc đơn xin ghi nợ sau khi nhận thông báo tiền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính Phủ và Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ T2.
- Thứ hai:Theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị Định số 45/2014/ NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 thì Bộ T2 là cơ quan hướng dẫn, trình tự thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất. Vì vậy, muốn sửa đổi bổ sung thêm quy định phải nộp giấy tờ, tài liệu về ghi nợ tiền sử dụng đất Bộ T2 phải sửa đổi thay thế các quy định về ghi nợ đã quy định tại Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014.
- Thứ ba: Ủy ban nhân dân cấp xã không có chức năng xác định cá nhân có khó khăn về tài chính mà chỉ xác nhận hộ nghèo và hộ cận nghèo.
- Thứ tư: Hiện trạng khu đất của bà Y là có nhà không phải là đất trống. Vì vậy, Thông báo số 96/TB-VP ngày 16 tháng 3 năm 2017 của Ủy ban nhân dân Quận A xác định là “khu đất trống lớn hơn 1000m² có khả năng thực hiện tổng mặt bằng không áp dụng cho trường hợp của bà Y”.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Tòa án chưa tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện: Hủy Quyết định số 790/QĐ-UBND ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A và Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban N. Buộc Ủy ban nhân dân Quận A cho bà Nguyễn Thu Y được ghi nợ tiền sử dụng đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Người bị kiện vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai và xin vắng mặt trong suốt quá trình xem xét giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp; căn cứ khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện.
[2] Về quyền khởi kiện: Ngày 28 tháng 02 năm 2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 790/QĐ-UBND “Về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thu Y, địa chỉ: C đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh” (gọi là Quyết định số 790/QĐ-UBND). Quyết định trên ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Nguyễn Thu Y nên bà Y có quyền khởi kiện.
[3] Thời hiệu khởi kiện: Ngày 05 tháng 6 năm 2020 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thu Y yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 790/QĐ-UBND và buộc Ủy ban nhân dân Quận A cho bà được nợ tiền sử dụng đất. Căn cứ quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, yêu cầu của bà Nguyễn Thu Y còn thời hiệu khởi kiện.
[4] Tại phiên tòa, người khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Quận A (gọi là Văn bản số 12458/UBND-TNMT), nhưng từ chối đối thoại với người bị kiện về Văn bản trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 29 tháng 11 năm 2019 làm phát sinh nghĩa vụ của bà Y. Bà Y đã khiếu nại Văn bản trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại. Như vậy, Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 29 tháng 11 năm 2019 là Văn bản hành chính có liên quan đến Quyết định hành chính bị khởi kiện. Do người bị kiện có ý kiến xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận từ chối đối thoại của người khởi kiện. Hội đồng xét xử sẽ xem xét tính hợp pháp và có căn cứ của Văn bản số 12458/UBND-TNMT trong quá trình xét xử và nghị án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 191 và Khoản 1 Điều 193 Luật tố tụng hành chính.
[5] Xem xét Văn bản số 12458/UBND-TNMT. Văn bản số 12458/UBND-TNMT của Ủy ban nhân dân Quận A đã căn cứ vào các văn bản của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Quận A về chủ trương ghi nợ tiền sử dụng đất trên địa bàn Quận A, cụ thể là các quy định như sau: Thông báo số 480/TB-VP ngày 13 tháng 10 năm 2016 về thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất; Thông báo số 550/TB-VP ngày 28 tháng 11 năm 2016 về xác nhận hoàn cảnh khó khăn trên đơn ghi nợ tiền sử dụng đất; Thông báo số 96/TB- VP ngày 16 tháng 3 năm 2017 về giải quyết các hồ sơ ghi nợ tiền sử dụng đất. Theo chủ trương ghi nợ tiền sử dụng đất trên địa bàn Quận A tại các thông báo trên thì việc ghi nợ tiền sử dụng đất phải có xác nhận hoàn cảnh khó khăn về tài chính tại địa phương (UBND phường/xã nơi cư trú) trên đơn ghi nợ tiền sử dụng đất. Trong quá trình nộp đơn ghi nợ tiền sử dụng đất, bà Nguyễn Thu Y không xin được xác nhận hoàn cảnh khó khăn về tài chính tại Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú là Ủy ban nhân dân phường B, Quận A. Tuy nhiên, việc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Quận A ban hành các văn bản này là để giải quyết hồ sơ liên quan đến các hồ sơ ghi nợ tiền sử dụng đất trên địa bàn Quận A.
Ngoài ra, việc Ủy ban nhân dân Quận A viện dẫn quy định theo Thông báo số 96/TB-VP ngày 16 tháng 3 năm 2017 của Văn phòng HĐND-UBND quận thông báo kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận tại buổi họp nghe báo cáo về giải quyết các hồ sơ ghi nợ tiền sử dụng đất “...Đối với trường hợp chuyển mục đích đất (khu đất trống lớn trên 1000 m² có khả năng thực hiện tổng mặt bằng) thì yêu cầu phải có xác nhận hoàn cảnh khó khăn của địa phương về tài chính mới xem xét ghi nợ tiền sử dụng đất...” để áp dụng cho trường hợp của bà Nguyễn Thu Y cũng chưa phù hợp. Bởi lẽ, theo Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số LTB1970123-TK0038838/TB-CCT ngày 20/6/2019 thì hiện trạng khu đất của bà Nguyễn Thu Y không phải là đất trống.
Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về thu tiền sử dụng đất của Chính phủ quy định như sau: “Hộ gia đình, cá nhân được chuyển mục đích sử dụng đất; được cấp Giấy chứng nhận phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 Nghị định này và hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất tái định cư mà có khó khăn về tài chính, có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ số tiền sử dụng đất phải nộp trên Giấy chứng nhận sau khi có đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất hoặc hồ sơ giao đất tái định cư hoặc có đơn xin ghi nợ khi nhận thông báo nộp tiền sử dụng đất. Người sử dụng đất được trả nợ dần trong thời hạn tối đa là 5 năm; sau 5 năm kể từ ngày ghi nợ mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất còn lại theo giá đất tại thời điểm trả nợ. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân thanh toán nợ trước hạn thì được hỗ trợ giảm trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp theo mức hỗ trợ là 2%/năm của thời hạn trả nợ trước hạn và tính trên số tiền sử dụng đất trả nợ trước hạn”.
Khoản 1 Điều 12 Thông tư 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ T2 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất quy định: “Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP có đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất hoặc hồ sơ giao đất tái định cư; hoặc có đơn xin ghi nợ khi nhận thông báo nộp tiền sử dụng đất nộp về Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Phòng T1 (trong trường hợp chưa có Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất”.
Theo các quy định trên thì trong trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất do có khó khăn về tài chính có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ số tiền sử dụng đất. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thế nào là có hoàn cảnh khó khăn về tài chính và cách thức xác nhận, chứng minh hoàn cảnh khó khăn về tài chính của cá nhân nếu có nguyện vọng ghi nợ tiền sử dụng đất.
Do vậy, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Văn bản số 12458/UBND-TNMT là không có căn cứ.
[5] Xem xét Quyết định số 790/QĐ-UBND:
[5.1] Thủ tục, thẩm quyền ban hành: Ngày 29 tháng 11 năm 2019 Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Văn bản số 12458/UBND-TNMT. Sau khi nhận đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thu Y khiếu nại Văn bản trên, Ủy ban nhân dân Quận A đã tiến hành xác minh khiếu nại, tổ chức đối thoại và ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Mục 2 Chương 3 Luật khiếu nại năm 2011.
[5.2] Về căn cứ ban hành: Như trên đã phân tích, Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính Phủ; Khoản 1 Điều 12 Thông tư 76/2014/TT-BTC ngày 16 tháng 6 năm 2014 của Bộ T2 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất không có quy định đơn ghi nợ phải có xác nhận của chính quyền địa phương về việc có khó khăn về tài chính. Khi nhận thông báo nộp tiền sử dụng đất, bà Y có đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất kèm theo tài liệu chứng minh khó khăn về tài chính gồm: Xác nhận tiền lương của cơ quan công tác với mức lương 7.153.400 đồng/1 tháng, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thể hiện bà Y chưa kết hôn và có 02 con, Sổ hộ khẩu thể hiện bà Y cùng các con đang ở nhờ nhà mẹ ruột, trong khi đó 02 con sinh đôi của bà Y bị khuyết tật bẩm sinh (có giấy xác nhận khuyết tật) nên bà Y đã đáp ứng đủ điều kiện được ghi nợ tiền sử dụng đất. Do vậy, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 790/QĐ-UBND không chấp nhận khiếu nại của bà Y là không có cơ sở.
[6] Do bà Nguyễn Thu Y đủ điều kiện được ghi nợ nên buộc Ủy ban nhân dân Quận A cho bà Y ghi nợ tiền sử dụng đất.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.
Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 193, Điều 206, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Luật khiếu nại năm 2011; Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 20 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính Phủ Quy định về thu tiền sử dụng đất.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu Y:
- Hủy Quyết định số 790/QĐ-UBND ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh “Về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thu Y, địa chỉ: C đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu).
- Hủy Văn bản số 12458/UBND-TNMT ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban N, thành phố Hồ Chí Minh “Về việc giải quyết đơn của bà Nguyễn Thu Y đề nghị ghi nợ tiền sử dụng đất, đất thuộc phường T”.
- Buộc Ủy ban nhân dân Quận A cho bà Nguyễn Thu Y được ghi nợ tiền sử dụng đất.
2. Về án phí: Ủy ban nhân dân Quận A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại bà Nguyễn Thu Y 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0091856 ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Bản án về khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính số 562/2022/HC-ST
| Số hiệu: | 562/2022/HC-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Ngày ban hành: | 06/05/2022 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về