Bản án về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 453/2022/HC-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 453/2022/HC-PT NGÀY 28/09/2022 VỀ KHIẾU KIỆN HÀNH VI HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 647/2020/TLPT-HC ngày 16 tháng 12 năm 2020 về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 31/2020/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh LC bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 8613/2022/QĐPT-HC ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Anh Đặng Văn B, sinh năm 1990 và chị Phạm Thị H, sinh năm 1993; cùng địa chỉ: Tổ 11, phường BC, thành phố LC, tỉnh LC; đều vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị D; địa chỉ: Tổ 1, thị trấn SS, huyện SS, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 30/7/2019); có mặt.

2. Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân thành phố LC.

Địa chỉ: Số 591, đường HL, phường KT, thành phố LC, tỉnh LC.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Đăng K – Chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố LC, tỉnh LC;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Đức H - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố LC, tỉnh LC (Văn bản ủy quyền ngày 27/8/2020); có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân phường BC, thành phố LC, tỉnh LC.

Địa chỉ: Phố Cù Chính Lan, phường BC, thành phố LC, tỉnh LC.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trường S – Chức vụ: Quyền chủ tịch UBND phường BC; có đơn xin xét xử vắng mặt.

3.2. Bà Nguyễn TP, sinh năm 1958;

3.3. Ông Phạm ĐN, sinh năm 1960;

3.4. Anh Phạm VN, sinh năm 1987;

3.5. Anh Phạm VH, sinh năm 1991;

3.6. Anh Phạm ĐNm, sinh năm 1986;

Cùng địa chỉ: Tổ 11, phường BC, thành phố LC, tỉnh LC.

Người đại diện theo ủy quyền của bà TP, ông ĐN, anh ĐN, anh VH, anh ĐNm: Bà Nguyễn Thị D; địa chỉ: Tổ 1, thị trấn SS, huyện SS, TP Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 17/12/2019); có mặt.

3.7. Ông Vàng Văn C; địa chỉ: Tổ 13, phường BC, thành phố LC, tỉnh LC; vắng mặt.

3.8. Ông Vàng Văn S; địa chỉ: Tổ 13, phường BC, thành phố LC, tỉnh LC; vắng mặt.

3.9. Bà La Thị M (Mảy); địa chỉ: Tổ 15, phường BC, thành phố LC, tỉnh LC; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo người khởi kiện trình bày:

Ngày 17/12/1994, hộ ông Phạm ĐN, bà Nguyễn TP được Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã LC cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tạm thời số 424 với các thửa đất tại thôn Vĩ Kim, xã BC (ĐNy là tổ 11, phường BC), trong đó: Đất trồng lúa: 1638m2; Đất vườn tạp: 570m2; Đất ao thả cá:

50m2; Đất thổ cư: 400m2.

Sau khi đo đạc địa chính lại, ngày 31/8/1999 ông ĐN, bà TP được UBND thị xã LC cấp GCNQSDĐ số vào sổ 0317 với diện tích: Đất vườn tạp:

516m2; Đất lúa: 1800m2. Ngày 11/11/2003, ông ĐN và bà TP được UBND thị xã LC cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00427/QSDĐ/TX-2003 đối với 120m2 đất thổ cư. Phần diện tích đất thổ cư còn lại là 280m2 chưa được cấp GCNQSDĐ.

Ngày 10/7/2012, anh Đặng Văn B và chị Phạm Thị H được bố mẹ là ông ĐN và bà TP tặng cho 120m2 đất thổ cư trong tổng số diện tích 280m2 chưa được cấp GCNQSDĐ (có làm giấy tờ viết tay có sự chứng kiến của một số thành viên trong gia đình). Tài sản trên đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4 diện tích 40m2, 01 nhà vệ sinh và 01 chuồng gà. Ngôi nhà này được ông ĐN, bà TP xây dựng từ những năm 1995, 1996 chưa lần nào bị xử phạt hành chính hoặc xử lý về hành vi sử dụng đất trái pháp luật. Sau này anh B, chị H có sửa lại mái nhà do nhà cũ bị xuống cấp nhưng giữ nguyên hiện trạng nền móng tường cũ. Từ khi nhận tặng cho đất, anh B, chị H sinh sống ổn định từ năm 2012; quá trình sử dụng đất không có tranh chấp với bất cứ hộ gia đình, cá nhân nào.

Tháng 4/2019, ông ĐN và bà TP nhận được thông báo của UBND phường yêu cầu tháo dỡ di dời toàn bộ tài sản, hoa màu trên diện tích đất 120m2 đã tặng cho anh B, chị H. Ông ĐN, bà TP đã có đơn lên UBND thành phố LC đề nghị trả lời về vấn đề này. Theo văn bản trả lời của UBND thành phố LC và UBND phường BC thì diện tích 120m2 đất đã được UBND thành phố LC thu hồi, bồi thường cho 03 hộ dân khác là hộ ông Vàng Văn C, ông Vàng Văn S và bà La Thị M (Mảy). Tháng 7/2019, UBND phường BC đã tiến hành cưỡng chế phá dỡ toàn bộ nhà và tài sản trên đất của gia đình anh B, chị H.

Người khởi kiện cho rằng diện tích đất sử dụng và tài sản trên đất là thuộc quyền sử dụng hợp pháp, do vậy yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh LC buộc UBND thành phố LC phải thực hiện hành vi hành chính ban hành quyết định thu hồi đất, thực hiện thống kê và bồi thường, chi trả chính sách hỗ trợ đối với đất ở và tài sản trên đất cho hộ anh B, chị H.

Người bị kiện Uỷ ban nhân dân thành phố LC trình bày:

Qua rà soát hồ sơ giải phóng mặt bằng, UBND thành phố LC xác định 120m2 đất anh B, chị H đang sử dụng là thuộc vị trí các thửa đất nông nghiệp (trồng lúa) của các hộ gia đình khác; vào năm 2002 và 2006 UBND thành phố LC đã thu hồi và bồi thường cho các hộ gia đình này, cụ thể:

- Quyết định số 244/QĐ-UBND ngày 21/3/2002 của UBND thị xã LC thu hồi đất để thực hiện mở rộng làn dân cư đường 4E (thu hồi thửa đất 53, 65, tờ bản đồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn S);

- Quyết định số 1441/QĐ-UBND ngày 10/7/2006 của UBND thành phố LC thu hồi đất để thực hiện dự án tiểu khu đô thị số 4 (thu hồi thửa số 64 TBĐ P2-21 mang tên bà La Thị M, thửa 82, 83 tờ bản đồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn C).

Các hộ gia đình trên đều đã nhận tiền bồi thường và bàn giao đất cho Nhà nước. Diện tích đất đã bàn giao UBND thành phố LC đã quy hoạch là đất công cộng 4. Sau đó hộ ông ĐN, bà TP đã tự ý lấn chiếm sử dụng và xây dựng các công trình trái phép trên đất. Vì vậy, tháng 7/2019, UBND thành phố LC đã tiến hành cưỡng chế tháo dỡ là đúng quy định.

Anh Đặng Văn B và chị Phạm Thị H yêu cầu UBND thành phố LC phải ban hành quyết định thu hồi đất, thống kê, bồi thường và chi trả các chế độ hỗ trợ là không có căn cứ.

Ông Vàng Văn S trình bày: Năm 2002, Nhà nước đã thu hồi của gia đình ông 664m2 đất lúa ở thửa số 53 tờ bản đồ P2-21; 1.128m2 đất lúa ở thửa số 65 tờ bản đồ P2-21 để thực hiện dự án mở rộng làn dân cư đường 4E.

Ông Vàng Văn C trình bày: Năm 2006, Nhà nước thu hồi của gia đình ông 244m2 đất lúa ở thửa số 82 tờ bản đồ P2-21; 174m2 đất lúa ở thửa số 83 tờ bản đồ P2-21.

Ông S, ông C đã nhận tiền bồi thường và bàn giao đất cho nhà nước, không có khiếu kiện gì. Đất của gia đình ông S, ông C trước kia có gần với diện tích đất của hộ ông Phạm ĐN, trong quá trình sử dụng không có tranh chấp gì nên ông S, ông C không liên quan đến nội dung khởi kiện.

Bản án Hành chính sơ thẩm số 31/2020/HC-ST ngày 21/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh LC đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 74, 75 Luật đất đai 2013; điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Bác yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn B và chị Phạm Thị H về việc buộc UBND thành phố LC phải ban hành quyết định thu hồi đất, thực hiện thống kê, bồi thường và chi trả chính sách hỗ trợ cho anh B, chị H khi thu hồi đất đối với diện tích 120m2 đất ở tại tổ 11 phường BC, thành phố LC, tỉnh LC.

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

Về án phí: Người khởi kiện anh Đặng Văn B và chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AC/2012/0001472 ngày 12/12/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh LC.

Về chi phí tố tụng: Người khởi kiện phải chịu 7.180.000 đồng (Bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Xác nhận người khởi kiện đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Ngày 01/10/2021, bà Nguyễn Thị D đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, cho rằng Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét đúng nguồn gốc tài sản và quá trình sử dụng đất; lời khai của người làm chứng đã xác định nhà đất gia đình đã xây dựng sử dụng ổn định từ trước đến ĐNy không có tranh chấp; Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập bản đồ địa chính 1998... đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ nội dung đơn khởi kiện.

Ngày 05/10/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LC có Quyết định số 11/QĐ-VKS-HC Kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hành chính sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội áp dụng khoản 3 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh LC xét xử phúc thẩm lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện cho rằng Tòa sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LC, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị D – đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe ý kiến trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của người kháng cáo; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tháng 4 năm 2019, khi UBND phường BC có văn bản yêu cầu gia đình ông Phạm ĐN, bà Nguyễn TP (bố mẹ của chị Phạm Thị H) tháo dỡ nhà và các công trình xây dựng trái phép trên đất công cộng 4. Tháng 7 năm 2019, UBND phường BC đã tiến hành cưỡng chế phá dỡ toàn bộ nhà và tài sản trên đất của hộ gia đình anh Phạm Văn B, chị Phạm Thị H. Đến ngày 04/12/2019, anh B và chị H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh LC đề nghị: Buộc UBND thành phố LC phải thực hiện hành vi hành chính ban hành quyết định thu hồi đất, thực hiện thống kê và bồi thường, chi trả chính sách hỗ trợ đối với đất ở và tài sản trên đất cho hộ anh B, chị H. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh LC thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

[2] Xét nội dung kháng cáo, kháng nghị:

Ngày 17/12/1994, hộ ông Phạm ĐN, bà Nguyễn TP được cấp GCNQSDĐ tạm thời số 424 với các thửa đất sau: Đất trồng lúa: 1638m2; Đất vườn tạp: 570m2; Đất ao thả cá: 50m2; Đất thổ cư: 400m2. Sau khi đo đạc lại bản đồ địa chính, căn cứ vào diện tích thực tế các gia đình đang sử dụng, UBND thị xã LC đã tiến hành cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình thuộc địa bàn thôn Kim Vĩ, xã BC. Ngày 31/8/1999, UBND thị xã LC cấp GCNQSDĐ số 0317 QSDĐ cho hộ ông Phạm ĐN với tổng diện tích 2.316,0m2, trong đó:

Thửa số 84 diện tích 92m2 đất vườn tạp; Thửa số 85 diện tích 424m2 đất vườn tạp; Thửa số 80 diện tích 842m2 đất lúa;

Thửa số 101 diện tích 482m2 đất lúa;

Thửa số 154 diện tích 226m2 đất lúa;

Thửa số 190 diện tích 250m2 đất lúa.

Ngày 11/11/2003, hộ ông Phạm ĐN và bà Nguyễn TP được UBND thị xã LC cấp GCNQSDĐ số 00427/QSDĐ/TX-2003 đối với diện tích 120m2 đất thổ cư.

Năm 2001, UBND thị xã LC thu hồi 100m2 đất lúa tại thửa số 190 tờ bản đồ P2-27 của hộ ông ĐN để làm đường.

Năm 2002, tại Quyết định số 229/QĐ-UB ngày 08/3/2002, UBND thị xã LC thu hồi 226m2 đất lúa tại thửa số 154 tờ bản đồ P2-27 của hộ ông ĐN để thực hiện dự án mặt bằng tái định cư và tại Quyết định số 246/QĐ-UB ngày 21/3/2002, UBND thị xã LC thu hồi 124m2 đất lúa tại thửa số 85 tờ bản đồ P2- 21 của hộ ông ĐN để mở rộng quy hoạch khu dân cư.

Năm 2006, tại Quyết định số 1441/QĐ-UBND ngày 10/7/2006, UBND thị xã LC đã thu hồi tổng diện tích 1.866m2 đất của hộ ông ĐN, cụ thể: 842m2 đất lúa tại thửa số 80; 482m2 đất lúa thửa 101; 92m2 đất lúa thửa 84; 300m2 đất lúa thửa 85 tờ bản đồ P2-21 và 150m2 đất lúa thửa 190 tờ bản đồ P2-27.

Như vậy, từ năm 2001-2006 hộ gia đình ông ĐN đã bị thu hồi toàn bộ diện tích đất đất ruộng lúa 2 vụ với tổng diện 2.316m2 theo GCNQSDĐ số 0317 QSDĐ ngày 31/8/1999. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận ý kiến của bà D cho rằng hộ gia đình ông ĐN chưa bị thu hồi diện tích đất vườn, đất lúa.

Theo anh B và chị H cho rằng: Ngày 10/7/2012, anh B, chị H được bố mẹ là ông ĐN và bà TP tặng cho 120m2 đất thổ cư trong tổng số diện tích 280m2 chưa được cấp GCNQSDĐ (có làm giấy tờ viết tay có sự chứng kiến của một số thành viên trong gia đình). Tài sản trên đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4 diện tích 40m2, 01 nhà vệ sinh và 01 chuồng gà. Ngôi nhà này được ông ĐN, bà TP xây dựng từ những năm 1995, 1996 chưa lần nào bị xử phạt hành chính hoặc xử lý về hành vi sử dụng đất trái pháp luật. Sau này anh B, chị H có sửa lại mái nhà do nhà cũ bị xuống cấp nhưng giữ nguyên hiện trạng nền móng tường cũ. Từ khi nhận tặng cho đất, anh B, chị H sinh sống ổn định từ năm 2012. Quá trình sử dụng đất không có tranh chấp với bất cứ hộ gia đình, cá nhân nào. Xét thấy: Theo Giấy chứng nhận tạm thời quyền sử dụng đất năm 1994 thì hộ ông Phạm ĐN được quyền sử dụng 400m2 đất thổ cư; năm 2003, hộ ông ĐN được cấp GCNQSDĐ diện tích 120m2 đất thổ cư. Theo bà TP và tại đơn kháng cáo bà Nguyễn Thị D (là người đại diện theo ủy quyền của anh B và chị H) thì trong quá trình sử dụng đất, ông ĐN và bà TP có chuyển nhượng cho 04 hộ gia đình, mỗi hộ 80m2 đất thổ cư; như vậy, diện tích hộ ông ĐN đã chuyển nhượng là 320m2 đất thổ cư; hiện tại hộ ông ĐN đang sử dụng 120m2 đất thổ cư đã được cấp GCNQSDĐ; và tại phiên toà phúc thẩm bà D xác nhận ông ĐN và bà TP đang sử dụng diện tích 280m2 đất thổ cư thuộc thửa số 73 chưa được cấp GCNQSDĐ. Như vậy, tổng diện tích đất thổ cư của hộ ông ĐN và bà TP hiện đang sử dụng và đã chuyển nhượng nhiều hơn với diện tích đất thổ cư được sử dụng tại Giấy tạm giao đất năm 1994.

Mặt khác, căn cứ kết quả xem xét thẩm định của Tòa án ngày 20/01/2020, tổng diện tích đất người khởi kiện chỉ tại thực địa là 146,7m2. Sau khi lồng lên bản đồ địa chính đo đạc năm 1998 thấy rằng: toàn bộ diện tích đất của người khởi kiện chỉ trên thực địa trùng vào một phần diện tích đất của hộ bà La Thị Mảy (thửa số 64, tờ bản đồ P2-21), ông Vàng Văn S (thửa số 53, 65, tờ bản đồ P2-21), ông Vàng Văn C (thửa số 82, 83, tờ bản đồ P2-21). Cụ thể:

- Có 01m2 trùng vào thửa số 64, tờ bản đồ P2-21 mang tên bà La Thị Mảy;

- Có 111,4 m2 trùng vào thửa số 65, tờ bản đồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn S;

- Có 4,4 m2 trùng vào thửa số 53, tờ bản đồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn S;

- Có 11,7 m2 trùng vào thửa số 82, tờ bản đồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn C;

- Có 18,2 m2 trùng vào thửa số 83, tờ bản đồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn C.

Theo các tài liệu do người bị kiện, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh LC, UBND phường BC cung cấp, thửa số 64, tờ bản đồ P2-21 mang tên bà La Thị Mảy (đã được cấp GCNQSDĐ số 0271 ngày 31/8/1999) và thửa 82, 83 tờ bản đồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn C (đã được cấp GCNQSDĐ số 0277 ngày 31/8/1999) đã được thu hồi tại Quyết định số 1441/QĐ-UBND ngày 10/7/2006 của UBND thành phố LC để thực hiện dự án tiểu khu đô thị số 4;

Thửa đất 53, 65 tờ bản dồ P2-21 mang tên ông Vàng Văn S (đã được cấp GCNQSDĐ số 0299 ngày 31/8/1999) được thu hồi tại Quyết định số 244/QĐ- UBND ngày 21/3/2002 của UBND thị xã LC thu hồi đất để thực hiện mở rộng làn dân cư đường 4E. Hộ bà Là Thị Mảy (ủy quyền cho con rể là Lý Văn Tỷ), hộ ông Vàng Văn C, Vàng Văn S đã nhận toàn bộ tiền bồi thường và bàn giao đất cho Nhà nước. Vị trí đất của anh B, chị H chỉ trên thực địa của vợ chồng anh B được ông ĐN, bà TP cho thì không thuộc diện tích 280m2 đất thổ cư của ông ĐN, bà TP chưa được cấp GCNQSDĐ; trong khi đó anh B và chị H cho rằng được bố mẹ là ông ĐN và bà TP tặng cho 120m2 đất thổ cư trong tổng số diện tích 280m2 đất thổ cư chưa được cấp GCNQSDĐ.

Từ những phân tích trên xác định, toàn bộ diện tích 120m2 đất theo yêu cầu của người khởi kiện đã được nhà nước ban hành quyết định thu hồi đất, bồi thường đầy đủ tiền và chính sách hỗ trợ cho hộ bà La Thị Mảy, ông Vàng Văn S, ông Vàng Văn C. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh B, chị H là có căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LC.

[3] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện; không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh LC; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 31/2020/HC-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh LC.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị D là người đại diện theo uỷ quyền của anh Đặng Văn B và chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số AC/2012/0001574 ngày 16/10/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh LC.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

79
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 453/2022/HC-PT

Số hiệu:453/2022/HC-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hành chính
Ngày ban hành: 28/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;