Bản án 35/2021/HSST ngày 14/09/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 35/2021/HSST NGÀY 14/09/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 14/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2021/HSST ngày 31/8/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/HSST- QĐ ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chang A N; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1978, tại huyện M, tỉnh Đ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm ruộng, nương; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; con ông: Chang A C và con bà: Giàng Thị T; Vợ: Giàng Thị C; Bị cáo có 06 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/6/2021, bị Công an huyện Mường Chà bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị tạm giữ, đến ngày 15/6/2021 bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị Thuận - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ - Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Lò Văn Đ – Sinh năm 1986; Địa chỉ: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điên Biên (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 05/6/2021, Chang A N điều khiển xe mô tô BKS 27V1- 062.64 đến khu vực bản NC, xã M, huyện M, tỉnh Đ để mua ma túy về sử dụng.

Tại đây N gặp Hạng A D, qua trao đổi N đã mua của D 01 gói Heroine được gói bằng một mảnh nilon màu hồng với giá 200.000 đồng, sau đó N cầm gói Heroine rồi điều khiển xe mô tô quay về. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang ngồi gần chỗ cống thoát nước thuộc khu vực bản H, xã M, huyện M và để gói Heroine xuống dưới đất ở trước mặt thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện bắt quả tang, thu giữ của N 01 gói Heroine có khối lượng 0,355 gam. Hành vi phạm tội của bị can Chang A N có tính chất nghiêm trọng.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 0,355 gam Heroine trích mẫu gửi giám định 0,067 gam còn lại 0,288 gam; 01 điện thoại di động, 01 chiếc xe mô tô BKS 27V1- 062.64.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Chà đã trả lại 01 chiếc xe mô tô BKS 27V1 - 062.64 cho chủ sở hữu hợp pháp là Chang A G.

Tại bản kết luận giám định số: 609/GĐ-PC09 ngày 14/6/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Chang A N gửi đến giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Chang A N 0,355 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018”.

Tại cáo trạng số 36/CT–VKSMC ngày 30/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố Chang A N ra trước Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên để xét xử về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quan điểm quyết định truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, theo quy định của pháp luật hiện hành, Kiểm sát viên đề nghị Hội Đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Chang A N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; Xử phạt bị cáo Chang A N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có việc làm thu nhập không ổn định kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Theo lời khai của bị cáo Chang A N số Heroine mà N bị thu giữ là do Lò Văn Đ, sinh năm 1986, trú tại bản T, xã M, huyện M đưa tiền cho bị cáo để nhờ bị cáo mua giúp. Quá trình điều tra Đ không thừa nhận, ngoài lời khai của Chang A N không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh, do vậy không có căn cứ xử lý đối với Lò Văn Đ.

Nguồn gốc số Heroine mà bị cáo Chang A N bị thu giữ N khai nhận mua của Hạng A D, trú tại bản NC, xã M, huyện M. Quá trình điều tra xác minh tại bản NC, xã M không có người nào tên là Hạng A D nên không có cơ sở để xử lý.

Trợ giúp viên pháp lý trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai. Trợ giúp viên hoàn toàn đồng tình với cáo trạng của VKSND huyện Mường Chà về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, ngoài ra đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ khác nhưng phải ghi trong bản án, như bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa trình độ học vấn thấp nhận thức pháp luật hạn chế... Đề nghị HĐXX xem xét và áp dụng hình phạt mức khởi điểm mà Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời cũng đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Sau khi nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và cũng không có ý kiến bổ sung gì với lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Xét về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Chang A N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 05/6/2021, tại trụ sở Công an xã M, huyện M, tỉnh Đ, Chang A N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,355 gam Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ vào hồi 14 giờ 55 phút ngày 05/6/2021; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng vào hồi 07 giờ 00 phút, ngày 06/6/2021; Bản kết luận giám định số 609/GĐ- PC09 ngày 14/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 05/6/2021, tại khu vực bản H, xã M, huyện M, tỉnh Đ, Chang A N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,355 gam Heroine, với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an huyện M phát hiện bắt quả tang.

[2]. Xét hành vi tàng trữ 0,355 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội nghiêm trọng, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Nhà nước ta nghiêm cấm, mua bán, tàng trữ..., trái phép các chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào đều phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Bị cáo nhận thức và hiểu rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật mọi hành vi và hậu quả của mình đã gây ra. Vậy, với hành vi và khối lượng ma túy nêu trên của bị cáo N đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/ BLHS.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…… c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Chang A N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và có căn cứ pháp luật, đúng với quan điểm của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa nên được chấp nhận. Mức án HĐXX căn cứ về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và khối lượng ma túy, tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX áp dụng quyết định mức hình phạt cho phù hợp. Các đề nghị khác của Trợ giúp viên HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.

[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sinh ra được bố mẹ nuôi dưỡng, ăn học hết lớp 2/12 thì bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình, đến trưởng thành xây dựng gia đình với Giàng Thị C và làm ăn sinh sống tại bản N, xã M, huyện M, tỉnh Đ. Đến ngày 05/6/2021 bị Công an huyện Mường Chà bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng: Như chúng ta đã biết ma túy là loại độc dược nó hủy hoại sức khỏe của con người, làm suy thoái phẩm chất đạo đức nếu ai sử dụng nó, làm khuynh gia bại sản gia đình tan nát, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo N, không những đã trực tiếp hủy hoại sức khỏe của bị cáo mà còn tiếp tay cho các đối tượng khác mua bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt là phù hợp.

[6]. Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo chủ yếu làm ruộng, làm nương thu nhập thấp, không ổn định kinh tế khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS.

[7]. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy gồm: 0,288 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định, 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu hồng. Tuyên trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu AS ANZO, màu xanh loại bàn phím.

[8]. Chiếc xe mô tô BKS 27X1-062.64 là xe của Chang A G (con trai bị cáo), bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma túy thì G không biết. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Chà đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 27X1-062.64 cho Chang A G là chủ sở hữu hợp pháp. Việc trả lại cho chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên là đúng quy định pháp luật do vậy HĐXX chấp nhận.

[9]. Theo lời khai của bị cáo Chang A N số Heroine mà N bị thu giữ là do Lò Văn Đ, sinh năm 1986, trú tại bản T, xã M, huyện M đưa tiền cho bị cáo để nhờ bị cáo mua giúp. Quá trình điều tra Đ không thừa nhận, ngoài lời khai của Chang A N không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh, do vậy không có căn cứ xử lý đối với Lò Văn Đ.

Nguồn gốc số Heroine mà bị cáo Chang A N bị thu giữ N khai nhận mua của Hạng A D, trú tại bản NC, xã M, huyện M. Quá trình điều tra xác minh tại bản NC, xã M không có người nào tên là Hạng A D nên không có cơ sở để xử lý.

[10]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên HĐXX xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[11]. Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Chà, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, Trợ giúp viên, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Chang A N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

- Xử phạt bị cáo Chang A N 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS: tịch thu tiêu hủy gồm 0,288 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu giám định, 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 mảnh nilon màu hồng. Trả lại cho bị cáo 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu AS ANZO, màu xanh loại bàn phím.

(Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 00 phút, ngày 31/8/2021 giữa Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên).

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

*Áp dụng Điều 331 và 333/BLTTHS, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/9/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án những gì liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

171
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 35/2021/HSST ngày 14/09/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:35/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Chà - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;