Bản án 24/2020/HSST ngày 09/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 24/2020/HSST NGÀY 09/06/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2020/TLST – HS ngày 22/4/2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN HÙNG H; giới tính: nam; sinh năm 1987 tại Tp. Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: không xác định; nơi tạm trú: không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 00/12; Nghề nghiệp: Lượm ve chai; Con ông: Nguyễn Việt G; Con bà: Đỗ Thị M; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án – tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/7/2007, bị TAND quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 105/2007/HSST, được đặc xá ngày 17/1/2009; Ngày 16/01/2012, bị TAND quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 17/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2012; Ngày 30/7/2013, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Quyết định số 799/QĐ – UBND tại Trường giáo dục đào tạo và giải quyết việc làm số 3.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/2/2020 (có mặt).

* Người bị hại:

1/ Ông Trương Nam Q, sinh năm 1984 (vắng mặt).

2/ Bà Lê Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1986(vắng mặt).

Cùng địa chỉ: 28/15 Đường H, Phường L, quận P, Tp. Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Phan Ngọc A, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Địa chỉ: số 28/27/34B Đường H, Phường B, quận P, Tp. Hồ Chí Minh.

2/ Ông Hồ Ngọc D, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: 76/22M Đường H, Phường B, quận P, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 03 giờ ngày 16/2/2020, Nguyễn Hùng H điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 59E1 – 078.73 từ nhà bà ngoại của H ở địa chỉ 28/27/34B Đường H, Phường B, quận P để đi nhặt ve chai. Khi điều khiển xe chạy ngang qua nhà số 28/15 Đường H, Phường L, quận P thì H phát hiện cửa khóa ngoài bằng một ổ khóa nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H dừng xe, mở cốp xe lấy 01 chiếc cờ lê bẻ khoen khóa cửa, khoảng 5 đến 7 phút sau thì khoen khóa bị bẻ gãy. Khi mở cửa đi vào trong nhà, H nhìn thấy ở kệ tivi bên phải (cách cửa ra vào 1,4m) có để điện thoại, H liền lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu trắng 64GB, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus màu bạc bỏ vào túi quần bên trái của H. Sau đó, H tiếp tục đi lục soát tài sản thì thấy có 01 chiếc bóp nữ màu đỏ, bên trong có 4.000.000 đồng để trong tủ nhựa màu xanh cách cửa ra vào 2,6m nên lấy tiền bỏ vào túi quần, bỏ lại bóp. Lúc này, nghe có tiếng xe máy bên ngoài, biết có người về nên H đi ra ngoài, quăng lại số tiền vừa lấy được xuống nhà gần khu vực bếp để tẩu thoát thì bị chủ nhà là ông Trương Năm Q tri hô cùng quần chúng bắt quả tang giao cho Công an Phường 15, quận Phú Nhuận xử lý.

Tiến hành kiểm tra, kết quả xét nghiệm xác định Nguyễn Hùng H dương tính với Methamphetamine, Morphin.

Theo kết luận của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận Phú Nhuận ngày 21/2/2020 kết luận:

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu trắng 64GB đã qua sử dụng trị giá 22.000.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus màu bạc, đã qua sử dụng trị giá 3.500.000 đồng.

[ Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận, Nguyễn Hùng H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng: 02 điện thoại di động và 4.000.000 đồng đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; 01 cờ lê; 01 ổ khóa đã qua sử dụng và 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 59E1 – 078.73 (thu giữ của bị cáo).

Tại bản cáo trạng số 22/CT – VKS.PN ngày 20 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Hùng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 18(mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị trả lại cho bà Ngọc A 01 chiếc xe gắn máy biển số 59E1 – 078.73; số vật chứng còn lại không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Do bản thân nghiện ma túy, lại không có việc làm ổn định nên khoảng 03 giờ ngày 16/2/2020 khi điều khiển xe chạy ngang qua nhà số 28/15 đường H, Phường L, quận Phú Nhuận H phát hiện cửa khóa ngoài bằng một ổ khóa nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo dừng xe, mở cốp xe lấy 01 chiếc cờ lê bẻ khoen khóa cửa đi vào trong nhà lấy được 02 điện thoại di động và số tiền 4.000.000 đồng để trong tủ nhựa màu xanh. Sau đó, bị cáo bị chủ nhà phát hiện cùng quần chúng nhân dân bắt quả tang giao công an phường xử lý.

Theo kết luận của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận Phú Nhuận ngày 21/2/2020 kết luận:

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu trắng 64GB đã qua sử dụng trị giá 22.000.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus màu bạc, đã qua sử dụng trị giá 3.500.000 đồng.

Tổng cộng số tiền bị cáo chiếm đoạt của người bị hại là 29.500.000 (Hai mươi chín triệu năm trăm ngàn đồng).

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với tang vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra nên có đủ cơ sở kết luận hành vi lén lút, lợi dụng sự vắng mặt của người bị hại khi đi ra ngoài giải quyết việc riêng, bị cáo đã phá khóa cửa khóa nhà, lẻn vào nhà chiếm đoạt 02 điện thoại di động và số tiền 4.000.000 đồng như đã nêu trên là phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét, bị cáo là người có nhân thân rất xấu, cụ thể: ngày 30/7/2007, bị TAND quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 105/2007/HSST, được đặc xá ngày 17/1/2009; Ngày 16/01/2012, bị TAND quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 17/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2012; Ngày 30/7/2013, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Quyết định số 799/QĐ – UBND tại Trường giáo dục đào tạo và giải quyết việc làm số 3. Theo các kết quả xác minh thể hiện trong hồ sơ bị cáo đã chấp hành xong các bản án nói trên.

Như vậy, mặc dù bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích, không có tiền án tiền sự nhưng bị cáo chưa biết tu sửa bản thân, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục, răn đe và đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng ông Trương Nam Q và bà Lê Nguyễn Ngọc T là 02 điện thoại di động và 4.000.000 đồng đã được thu hồi tại chỗ và giao trả lại cho người bị hại. Ông Q và bà T đã nhận lại tài sản và không có ý kiến yêu cầu gì thêm. Ngoài ra, trong quá trình điều tra vợ chồng ông Q còn khai bị mất thêm số tiền 9.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo khai không lấy số tiền này, khi bắt quả tang khám xét trong người của bị cáo cũng không có số tiền này. Ngoài lời khai của vợ chồng ông Q thì không có chứng cứ nào khác để chứng minh cho số tiền này bị bị cáo chiếm đoạt nên không có cơ sở để xử lý giải quyết.

[4]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 cờ lê kim loại và 01 ổ khóa kim loại là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 59E1- 078.73, số khung: RLCS5C640BY473633, số máy 5C64473637 là phương tiện phạm tội thu giữ của bị cáo. Bị cáo khai mượn của dì ruột là Phan Ngọc A để đi mua đồ cho bà ngoại. Chị A khai xe này chị mua của anh Hồ Ngọc D vào ngày 01/2/2020 với giá 7.500.000 đồng. Hai bên có làm giấy mua bán nhưng không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Chị A cho H mượn xe để đi mua đồ cho mẹ chị, không biết H sử dụng vào mục đích đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã nhiều lần mời Hồ Ngọc D lên làm việc nhưng Hồ Ngọc D đã vắng mặt tại địa phương. Qua xác minh cho kết quả chiếc xe này do anh Nguyễn Nhất Hoài N là chủ sở hữu hợp pháp. Anh N đã cho Hồ Ngọc D là anh em cùng mẹ khác cha nhưng không làm thủ tục tặng cho. Anh N xác nhận chiếc xe này đã cho D nên D có toàn quyền quyết định, anh không còn liên quan gì đến chiếc xe. Xét chiếc xe này người sở hữu hợp pháp cuối cùng là chị Phan Ngọc A, chị A không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên trả lại cho chị Ngọc A là hợp lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hùng H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/2/2020.

[3]. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) cờ lê kim loại mặt bên ghi chữ “SIGMA 250 mm” đã cũ.

+ 01 (một) ổ khóa kim loại mặt bên có ghi chữ “YETI”, bên trong gọng khóa có 02 (hai) khoen móc khóa, tình trạng cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho chị Phan Ngọc A 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 59E1- 078.73, số khung: RLCS5C640BY473633, số máy 5C64473637.

(Theo biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 05/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh).

[4]. Về án phí: áp dng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo H phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

238
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 24/2020/HSST ngày 09/06/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:24/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;