Bản án 170/2018/HS-ST ngày 29/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 170/2018/HS-ST NGÀY 29/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 225/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1980 (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Nơi ĐKTT: Số 248/8A đường TKD, kp 6, phường A H, Tp. RG, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Số 248/8A đường TKD, kp 6, phường A H, Tp. RG, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959 và bà Trần Thị M, sinh năm 1964; Chồng: Nguyễn Văn N, sinh năm 1978; Con: 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2015; Tiền sự: Không;

Tiền án:

+ Ngày 16/02/2017 có hành vi Trộm cắp tài sản, đến ngày 26/6/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 09 tháng tù giam (chưa chấp hành), hiện nay được hoãn thi hành án, lý do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. 

Nhân thân:

+ Ngày 25/12/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 25/6/2008 chấp hành xong, đã được xóa án tích.

+ Ngày 07/7/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 07/02/2012 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích.

Bị cáo đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 123 ngày 09/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa);

* Người bị hại: Chị Bùi Minh Ng, sinh năm 1996. (Có mặt).

Địa chỉ: Số 1017, đường L Q K, phường A H, TP. RG, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị M, sinh năm 1964. (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 248/8A, đường TKD, kp 6, phường A H, Tp. RG, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc Th là người có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 09 tháng tù, đang trong thời gian hoãn chấp hành án với lý do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 02/7/2018, Nguyễn Ngọc Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu đỏ, biển số 68X1- 489.98 (Th mượn của mẹ ruột Trần Thị M), điều khiển từ nhà của Th đến đường Lâm Quang Ky, tìm tài sản để trộm cắp, khi đi đến trước tiệm tóc Ngọc Anh của chị Bùi Minh Ng, tại số 1017 L Q K, phường A H, TP. RG, Kiên Giang, thấy tiệm mở cửa, không có người trong coi nên Th nảy sinh ý định đi vào tiệm tóc tìm tài sản lấy trộm. Lúc này Th đậu xe trước cửa tiệm và quan sát xung quanh thấy không có người nên Th đi vào trong tiệm, Th nhìn xung quanh thấy có một chiếc cặp da của chị Bùi Minh Ng treo trên sào quần áo. Lúc này Th đi lại gần thấy chiếc cặp không có kéo khóa, thấy trong cặp có tiền nên Th dùng tay phải đưa vào trong cặp lấy trộm được một nắm tiền, tổng số 643.000đ (Sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng), bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng đi ra định tẩu thoát thì bị chị Bùi Minh Ng phát hiện bắt giữ lại và trình báo công an phường An Hòa. Tại cơ quan điều tra Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Ngày 09/7/2018, Nguyễn Ngọc Th bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và cấm khỏi nơi cư trú để điều tra.

- Về vật chứng trong vụ án:

+ Tiền Việt Nam: 643.000đ (Sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, biển số 68X1-489.98 đã qua sử dụng.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đã trả lại cho bị hại Bùi Minh Ng số tiền 643.000 đồng, theo biên nhận ngày 16/7/2018.

+ Đã trả lại cho bà Trần Thị M là chủ sở hữu một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, biển số 68X1-489.98, do Nguyễn Ngọc Th mượn của bà Mỡ dùng vào việc phạm tội, bà Mỡ không biết, theo biên nhận ngày 02/7/2018.

Tại bản Cáo trạng số 165/CT-VKSTPRG ngày 25/9/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Th về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th từ 12 đến 15 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2017/HSST, ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Bùi Minh Ng đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và không có ý kiến gì khác.

Người bị hại Bùi Minh Ng thống nhất với nội dung cáo trạng đã nêu và lời trình bày của bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bà Ngọc đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự bà Ngọc yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phần nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, lao động nuôi con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ và tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa qua kết quả thẩm vấn, lời khai bị cáo, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thể hiện: Do không có tiền tiêu xài, với ý định đi tìm tài sản để trộm cắp, vào khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 02/7/2018 Nguyễn Ngọc Th đã điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, biển số 68X1-489.98 (Th mượn của mẹ ruột Trần Thị Mở) từ nhà của Th đến đường Lâm Quang Ky, tìm tài sản để trộm cắp, khi đến trước tiệm tóc Ngọc Anh của chị Bùi Minh Ng tại số 1017 L Q K, phường A H, TP. RG thấy tiệm mở cửa, không có người trông coi, Th đã lén lúc đột nhập vào nhà lấy trộm của chị Ng tài sản là số tiền mặt 643.000 đồng thì bị chị Ng phát hiện, bắt giữ lại và trình báo Công an phường An Hòa.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người chứng kiến và phù hợp các chứng cứ có trong hồ sơ đã được làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã thực hiện hoàn thành hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 643.000 đồng, nhưng do bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 138/2017/HS-ST, ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, bị xử phạt 09 tháng tù giam (chưa chấp hành), đang trong thời gian được hoãn thi hành án do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, mà bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Th đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo đã xâm phạm trái phép đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây ra sự hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý và bảo vệ tài sản, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, mặc dù đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự không hướng thiện, cũng như ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.

[5] Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt sau này, sống có ích cho xã hội và làm gương cho người khác có ý định phạm tội.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố Rạch Giá về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ thể hiện bị cáo Th không có nghề nghiệp và mức thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại cho bị hại Bùi Minh Ng số tiền 643.000đ (Sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Ngày 16/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả xong.

+ Trả cho bà Trần Thị M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, biển số 68X1-489.98, số máy JA39E0566036, số khung 3905HY591607, xe cũ đã qua sử dụng. Ngày 02/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả xong.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Bùi Minh Ng đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2017/HSST, ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 09 tháng tù (một năm chín tháng tù). Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại cho bị hại Bùi Minh Ng số tiền 643.000đ (Sáu trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Ngày 16/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả xong.

+ Trả cho bà Trần Thị M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, biển số 68X1-489.98, số máy JA39E0566036, số khung 3905HY591607, xe cũ đã qua sử dụng. Ngày 02/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả xong.

4. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Bùi Minh Ng đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 6, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Ngọc Th phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

290
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 170/2018/HS-ST ngày 29/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:170/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;