Bản án 1066/2019/DS-ST ngày 29/08/2019 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1066/2019/DS-ST NGÀY 29/08/2019 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 23 và ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 973/2017/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3819/2019/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn T (LE TOM), sinh năm 1953.

Địa chỉ: CORONA CA 92883, America.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Đường N, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số 008147 ngày 18/8/2017 tại Văn phòng Công chứng Chợ Lớn).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

Ông Luật sư Huỳnh Phi L - Văn phòng luật sư Q - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

Đa chỉ: Đường N, Phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn:

1. Ông Lê Văn T2, sinh năm 1958.

2. Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: Đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện ủy quyền của bà Nguyễn Thị U:

Ông Lê Văn T2, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số công chứng 00002325 ngày 04/3/2019, lập tại Văn phòng công chứng Thịnh Vượng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trẻ Lê Đức T3, sinh năm 2010.

Địa chỉ: đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1979 (mẹ ruột).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Lê Văn T có bà Nguyễn Thị T1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nhà, đất tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt Căn nhà M) do nguyên đơn ông Lê Văn T và bị đơn ông Lê Văn T2 cùng bỏ tiền mua vào năm 2014 bằng nguồn tiền được chia thừa kế từ di sản là căn nhà tại đường N, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt Căn nhà B) của cha mẹ là ông Lê Văn T4 (chết năm 1995) và bà Nguyễn Thị T5 (chết năm 2006) để lại và 17,800USD do nguyên đơn gửi thông qua dịch vụ.

Tại thời điểm mua nhà đất nêu trên, do nguyên đơn không đủ điều kiện đứng tên nên để vợ chồng bị đơn đứng tên dùm. Do là anh em ruột nên nguyên đơn tin tưởng và không làm văn bản về việc nhờ ông T2 và bà U đứng tên dùm mà lập Hợp đồng vay tiền và thế chấp quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) ngày 27/01/2015 để đảm bảo cho việc hùn vốn mua nhà đã thực hiện trước đó từ nguồn tiền được thừa kế Căn nhà B và 17,800USD chuyển qua dịch vụ. Do đó, xác nhận không có việc giao nhận số tiền 500,000,000 đồng như Hợp đồng vay ngày 27/01/2015. Tuy nhiên, ngày 23/01/2015, ông Lê Văn T2 và vợ là bà Nguyễn Thị U có làm Giấy thỏa thuận thừa nhận việc mua Căn nhà M từ nguồn tiền được thừa kế di sản của cha mẹ, có nội dung: “Tôi và anh tôi thừa kế nhà của cha mẹ và lấy tiền mua lại căn nhà này”. Tuy nhiên, căn cứ cho việc nhận tiền là toàn bộ số tiền được chia thừa kế ông T2 đã nhận và số tiền 17,800 USD; thì vợ chồng bị đơn đã nhận thông qua dịch vụ là nhiều hơn 500,000,000 đồng, nhưng nguyên đơn đồng ý chỉ yêu cầu có đóng góp 500,000,000 đồng để mua ½ Căn nhà M, phần còn lại tặng cho ông Lê Văn T2. Nay nguyên đơn yêu cầu Toà án công nhận ½ quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là thuộc sở hữu của ông.

Giấy ủy quyền di sản thừa kế ngày 07/02/2011 của ông Lê Văn T nhằm mục đích để ông T2 nhận tiền từ bên mua nhà đồng thời giữ lại số tiền của ông T trong Căn nhà B để mua Căn nhà M. Vì nếu ông T không làm ủy quyền thì bên mua không giao tiền, số tiền cụ thể là 360,000,000 đồng. Đại diện nguyên đơn không đồng ý với ý kiến của bị đơn về giấy ủy quyền ngày 07/02/2011 có nội dung là nguyên đơn cho ông Lê Văn T2 toàn bộ phần thừa kế của mình.

Bị đơn ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị U trình bày:

Bị đơn xác định đã nhận đầy đủ tất cả các tài liệu như nguyên đơn trình bày và cung cấp cho Tòa án. Nhà, đất tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu và sử dụng của vợ chồng bị đơn. Di sản là Căn nhà tại đường N, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh của cha mẹ là ông Lê Văn T4 (chết năm 1995) và bà Nguyễn Thị T5 (chết năm 2006) để lại đã được chia đều cho 09 người con, trong đó có ông T2. Tuy nhiên, số tiền mua nhà và đất tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là gồm phần tiền ông Lê Văn T2 được chia thừa kế và tiền dành dụm của vợ chồng ông T2 và bà U.

Bị đơn bà Nguyễn Thị U thừa nhận có ký tên trên Hợp đồng vay tiền và thế chấp quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) ngày 27/01/2015 (viết tắt là Hợp đồng vay tiền ngày 27/01/2015). Ông T2 không ký tên vào hợp đồng do ông T không đưa tiền.

Ngày 23/01/2015 ông Lê Văn T2 viết và vợ chồng cùng ký tên trên Giấy thỏa thuận nhằm mục đích trong trường hợp vợ chồng bị đơn nếu có chết trước khi con trai là trẻ Lê Đức T3 (sinh ngày 20/3/2010) chưa đủ 25 tuổi thì nguyên đơn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng.

Căn cứ vào Giấy ủy quyền ngày 07/02/2011 có nội dung: “Tôi xin cam đoan việc ủy quyền này của tôi là hoàn toàn tự nguyên, không kèm theo điều kiện gì, và không nhằm trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Tôi cũng cam đoan từ nay về sau không khiếu nại và tranh chấp di sản nêu trên”, thì nguyên đơn đã cho ông Lê Văn T2 toàn bộ 280,000,000 đồng, là số tiền nguyên đơn được chia từ di sản thừa kế, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời thừa nhận số tiền 17,800USD của nguyên đơn chuyển về cho bị đơn, có tên người gửi là Tom Le, chuyển tiền thông qua dịch vụ trong khoảng thời gian từ ngày 25/9/2013 đến 04/3/2015 là đúng như bảng kê do nguyên đơn cung cấp.

Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn xác nhận giá mua căn nhà đang tranh chấp là 1,000,000,000 đồng, hợp đồng bị đơn cung cấp thêm với giá 1,850,000,000 đồng là nhằm cộng thêm số tiền ông đã bỏ ra xây lại nhà và nhờ ông T6 ký lại. Đối với việc xây dựng lại nhà với giá trị 800,000,000 đồng ông T2 xác định không cung cấp được chứng cứ để chứng minh. Đối với phần đất tại Bến Tre, bị đơn xác nhận chỉ đứng tên giùm không trực tiếp mua bán và đã chuyển trả xong cho nguyên đơn. Riêng số tiền 17,800USD nguyên đơn gửi về là để ông T2 xây dựng nhà tại Bến Tre không liên quan đến căn nhà đang tranh chấp, nhưng xác nhận không đưa được chứng cứ để chứng minh việc xây dựng này. Đồng thời không có yêu cầu phản tố đối với số tiền theo ông đã bỏ ra xây dựng căn nhà tại Bến Tre.

Đại diện nguyên đơn không đồng ý với trình bày của bị đơn liên quan đến số tiền 17,800USD mà bị đơn cho rằng để xây dựng nhà tại Bến Tre, vì đã giải quyết xong từ năm 2013. Trong khi số tiền này được chuyển trong thời gian mua Căn nhà M, bị đơn nêu nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Tòa án công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đối với ½ Căn nhà M cho nguyên đơn trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nhà theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ, hòa giải, xét xử. Các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền của mình, phiên tòa được thực hiện đúng trình tự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện là người Việt Nam đang định cư tại nước ngoài, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 2 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều 464; 465; 466; 468; 469; 470; 476; 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện được công nhận ½ Căn nhà M thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn, cần xác định là tranh chấp quyền sở hữu tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung:

[3] Nguyên đơn yêu cầu được công nhận ½ Căn nhà M thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn, do nguyên đơn nhờ vợ chồng bị đơn đứng tên giùm. Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện là Hợp đồng vay tiền và thế chấp quyền sử dụng đất (có tài sản gắn liền với đất) đề ngày 27/01/2015; Giấy thỏa thuận ngày 23/01/2015; số tiền để đưa bị đơn mua nhà tương đương với 500,000,000 đồng, là ½ giá trị căn nhà gồm 17,800USD bị đơn đã nhận thông qua dịch vụ và số tiền nhận thừa kế từ căn nhà của cha mẹ giao cho bị đơn giữ. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do số tiền thừa kế nguyên đơn đã cho bị đơn theo Giấy ủy quyền ngày 07/02/2011; riêng số tiền 17,800USD nguyên đơn chuyển cho bị đơn để xây dựng nhà tại Bến Tre, nên phát sinh tranh chấp. Do đó, vấn đề Hội đồng xét xử cần đặt ra là nguyên đơn có chuyển tiền cho bị đơn, nguyên đơn chuyển số tiền bao nhiêu và việc nguyên đơn chuyển tiền cho bị đơn có phải nhằm mục đích mua Căn nhà M để làm căn cứ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Xác định việc giao nhận tiền: Căn cứ lời khai nhận của bị đơn tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ sơ xác định ông Lê Văn T2 đã nhận 280,000,000 đồng là số tiền chia thừa kế từ di sản của cha mẹ chết để lại từ căn nhà tại đường N, Phường N, Quận B; đại diện nguyên đơn cho rằng số tiền này là 360,000,000 đồng, nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Do đó, cần xác định số tiền nguyên đơn giao cho ông Lê Văn T2 từ tiền thừa kế là 280,000,000 đồng. Riêng số tiền 17,800USD bị đơn thừa nhận đã nhận qua dịch vụ đúng như bảng kê do nguyên đơn cung cấp tại thời điểm năm 2015 tương đương số tiền 17,800 x 2,100 = 373,800,000 đồng. Mặt khác, xét thấy lời khai giữa hai bên là mâu thuẫn, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy không cần thiết phải tiến hành cho đối chất về việc nhận bao nhiêu tiền thừa kế và cũng không cần thiết phải đưa bà Nguyễn Anh Uyên T7 vào tham gia tố tụng. Đủ căn cứ xác định bị đơn ông Lê Văn T2 đã nhận toàn bộ số tiền của nguyên đơn được chia thừa kế là 280,000,000 đồng và 17,800USD chuyển qua dịch vụ, tổng cộng hai khoản là 653,800,000 đồng. Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn chỉ yêu cầu xác định trong đó có 500,000,000 đồng để mua ½ Căn nhà M, phần còn lại nguyên đơn cho ông T2, là có lợi cho bị đơn, cần được ghi nhận.

[5] Xác định mục đích chuyển tiền: Bị đơn căn cứ Giấy ủy quyền di sản thừa kế ngày 07/02/2011, người ủy quyền là nguyên đơn, người được ủy quyền là ông Lê Văn T2, có nội dung “bằng văn bản này, tôi ủy quyền cho em tôi được giữ lại phần tiền của tôi sau khi bán căn nhà trên…” để xác định nguyên đơn cho ông Lê Văn T2 toàn bộ số tiền 280,000,000 đồng là có mâu thuẫn, không được nguyên đơn thừa nhận; đủ cơ sở xác định nguyên đơn không cho bị đơn ông Lê Văn T2 số thừa kế như bị đơn trình bày.

[6] Riêng số tiền 17,800USD vợ chồng bị đơn đã nhận, là để xây dựng nhà tại Bến Tre theo yêu cầu của nguyên đơn, nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh; đại diện nguyên đơn căn cứ Giấy viết tay ngày 28/8/2013, được ông T2 thừa nhận viết và vợ chồng bị đơn cùng ký tên lăn dấu vân tay, có nội dung “hôm nay ngày 28-8-2013 vợ chồng tôi và hai người chứng ký tên lăn tay và xác nhân tất cả tài sản nói trên đất và nhà là hoàn toàn của anh Lê Văn T” để xác định tiền đã nhận sau khi giải quyết xong nhà và đất tại Bến Tre. Do đó, không đồng ý với trình bày của bị đơn nhận số tiền nêu trên để xây dựng nhà tại Bến Tre, là phù hợp với thực tiễn khách quan của vụ án.

[7] Căn cứ Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà ngày 08/9/2014, đối với Căn nhà M giữa bên bán ông Nguyễn Văn T6, bên mua ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị U, thỏa thuận mua bán với giá 01 (một) tỷ đồng. Tại bản tự khai ngày 17/4/2019 ông Nguyễn Văn T6 cũng xác định giá bán là 01 (một) tỷ đồng và Bản tự khai ngày 12/6/2019 ông T6 xác định Hợp đồng đặt cọc ông ký với giá 1,800,000,000 là ký lại theo yêu cầu của ông T2, phù hợp với lời trình bày của ông T2 tại phiên Tòa. Cần xác định ông Lê Văn T2 mua Căn nhà M với giá là 01 (một) tỷ đồng.

[8] Căn cứ Giấy thỏa thuận ngày 23/01/2015, vợ chồng bị đơn thừa nhận do chính bị đơn Lê Văn T2 viết, hai vợ chồng cùng ký tên, lăn dấu vân tay có nội dung “Tôi đứng tên dưới dây là Lê Văn T2… tôi có nhận thừa kế của cha mẹ tôi là …bán căn nhà tại đường N, phường N, Quận B và tôi có mua lại căn nhà tại đường H…để làm nhà thờ cúng ông bà cha mẹ….chúng tôi gồm 2 vợ chồng…phải chăm lo gìn giữ nếu sau này có mua bán thì phải thông qua ông Lê Văn T…Tôi và anh của tôi thừa kế nhà của cha mẹ lấy tiền mua lại căn nhà này.” bị đơn nêu viết trong trạng thái đang bị chấn thương sọ não sau tai nạn giao thông, nên không biết mình viết gì nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh, không được nguyên đơn thừa nhận.

[9] Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai tại Tòa, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền đều thừa nhận, khi giao tiền mua nhà do không đủ điều kiện đứng tên trong hợp đồng mua bán nhà và tin tưởng nên đã để vợ chồng bị đơn đứng tên giùm. Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định nguyên đơn có cùng góp 500,000,000 đồng để mua ½ Căn nhà M và để vợ chồng bị đơn đứng tên giùm do không đủ điều kiện để mua nhà.

[10] Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu được công nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu đất ở đối với ½ Căn nhà M, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm mua nhà vào ngày 12/9/2014, nguyên đơn là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, pháp luật không cho phép người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam, nên giao dịch đứng tên mua nhà giùm bị vô hiệu. Do đó, không thuộc trường hợp được công nhận quyền sở hữu nhà theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 159; khoản 3 Điều 160 Luật Nhà ở 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015, như trình bày của luật sư của nguyên đơn. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận cho nguyên đơn được đứng tên quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với ½ Căn nhà M.

[11] Xét hậu quả do việc đứng têm giùm bị vô hiệu, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm nguyên đơn nhờ đứng tên giùm đã chuyển cho bị đơn số tiền nhiều hơn số tiền phải đóng góp cho giá trị ½ Căn nhà M, đồng thời tại thời điểm hiện tại Luật Nhà ở cũng đã chấp nhận cho người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam, nhưng nguyên đơn không được chấp nhận yêu cầu là có phần thiệt hại. Do đó, cần thiết chỉ tính chia đôi giá trị nhà là phù hợp. Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 37/18/CT-VALUINCO-HCM vào tháng 11/2018, Căn nhà M có tổng giá trị theo giá thị trường tại thời điểm thẩm định là: Giá trị quyền sử dụng đất là 2,300,496,000 đồng, giá trị 57m2 đất sàn xây dựng là 196,222,500 đồng, tổng cộng là 2,496,418,500 đồng. Cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sở hữu đối với ½ giá trị nhà và đất Căn nhà M, tương đương số tiền 2,496,418,500 đồng/2= 1,248,209,000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất đối với ½ Căn nhà đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, do thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Bị đơn ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị U mỗi người chịu ½ (một nữa) án phí dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn tương đương với giá trị tài sản 1,248,209,000 đồng, mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24,723,135 đồng, được tính như sau: 36,000,000 + (448,209,000 x 3%)= 49,446,270/2 = 24,723,135 đồng. Tuy nhiên, ông Lê Văn T2 có đơn xin miễn án phí vì thuộc trường hợp người cao tuổi, nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều 464; 465; 466; 468; 469; 470; 476; 479 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 159; khoản 3 Điều 160 Luật Nhà ở 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận ½ (một nữa) giá trị Căn nhà tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn ông Lê Văn T.

Bị đơn ông Lê Văn T2 và bà Nguyễn Thị U có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Lê Văn T ½ (một nữa) giá trị Căn nhà tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, tương đương với số tiền 1,248,209,000 đồng (một tỷ, hai trăm bốn mươi tám triệu, hai trăm lẽ chín nghìn đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn không thực hiện trả số tiền nêu trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi Căn nhà tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để thanh toán cho nguyên đơn ½ (một nửa) giá trị Căn nhà nêu trên tại thời điểm phát mãi.

2. Không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở đối với ½ Căn nhà tại đường H, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, do được chấp nhận yêu cầu. Nguyên đơn được nhận lại số tiền 300,000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai tạm ứng án phí lệ phí số AA/2017/0048044 ngày 27/10/2017 Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn ông Lê Văn T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn bà Nguyễn Thị U phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 24,723,135 đồng (hai mươi bốn triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, một trăm ba mươi lăm đồng).

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự không có mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

754
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 1066/2019/DS-ST ngày 29/08/2019 về tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

Số hiệu:1066/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về

Bạn Chưa Đăng Nhập Tài khoản!

Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;