Bản án 02/2021/HNGĐ-ST ngày 13/01/2021 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 02/2021/HNGĐ-ST NGÀY 13/01/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 13 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:333/2020/TL.ST-HNGĐ, ngày 02 tháng 11 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2020/QĐST-HNGĐ giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ T; Địa chỉ cư trú: ấp An Th, xã Thạnh Ph, huyện Cờ Đ, thành phố C. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nh; Địa chỉ cư trú: ấp Trường Th, xã Trường Long T, huyện Châu Th, tỉnh H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn xin ly hôn ngày 02/11/2020 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T trình bày: Trước đây, bà và ông Nguyễn Văn Nh có quen biết, sau một thời gian tìm hiểu chúng tôi tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Ph, huyện Cờ Đ, thành phố C xác lập vào ngày 09/02/2017.

Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2018, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Nh ghen tuông vô cớ, thời gian gần đây ông Nh thường xuyên nhậu nhẹt không quan tâm chăm sóc gia đình. Mỗi lần có rượu lại chửi bới, xúc phạm bà. Bà đã nhiều lần khuyên bảo mong muốn ông Nh thay đổi để cố gắng vun đắp cho hạnh phúc gia đình thế nhưng ông Nh vẫn không thay đổi. Điều này khiến cuộc sống hôn nhân của ông bà thường xuyên xảy ra xung đột tình cảm vợ chồng ngày càng nhiều, điều này khiến bà vô cùng mệt mỏi và mong muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này.

Đến nay, bà nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nh.

Về con chung: Bà và ông Nh có 01 con chung tên: Nguyễn Đ (nam), sinh ngày: 29/8/2017. Hiện con chung đang sống với bà. Nếu giải quyết cho ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ đến khi trưởng thành và không yêu cầu ông Nh cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có. Không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

- Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Văn Nh vắng mặt nên không có ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ Tcó đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn Nh đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có ý kiến.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T và ông Nhỏ.

Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51; Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông Nh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lê Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nh; Về con chung: Hiện cháu Đ đang chung sống với bà T, được bà T chăm sóc nuôi dưỡng tốt, để tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu Đ đề nghị giao cháu Nguyễn Đ (nam) sinh ngày 29/8/2017 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu Đ tròn 18 tuổi, bà T không yêu cầu ông Nh cấp dưỡng nên ông Nh chưa có nghĩa vụ phải cấp dưỡng; Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nh không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Lê Thị Mỹ T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nh nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã tiến hành mời bị đơn ông Nguyễn Văn Nh lên để tiến hành hòa giải và công khai chứng cứ nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông Nh, tuy nhiên ông Nh không có nhà nên Tòa án đã tiến hành niêm yết văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông Nh vẫn vắng mặt, không lý do. Tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập ông Nh tham dự phiên tòa sơ thẩm lần 2 hợp lệ nhưng ông Nh vẫn cố tình vắng mặt không lý do. Để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Nhỏ.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà T, ông Nh xác lập quan hệ hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Ph, huyện Cờ Đ, thành phố C vào năm 2017. Quá trình chung sống giữa bà Tiên, ông Nh phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông Nh. Phía bị đơn ông Nh vắng mặt nên không có ý kiến.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông Nh nguyên nhân mâu thuẫn chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, ông Nh thì ghen tuông vô cớ, thời gian gần đây ông Nh thường xuyên nhậu nhẹt không quan tâm chăm sóc gia đình. Mỗi lần có rượu lại chửi bới, xúc phạm bà T. Bà T cũng đã nhiều lần khuyên bảo mong muốn ông Nh thay đổi để cố gắng vun đắp cho hạnh phúc gia đình thế nhưng ông Nh vẫn không thay đổi. Điều này khiến cuộc sống hôn nhân của ông bà thường xuyên xảy ra xung đột tình cảm vợ chồng ngày càng nhiều, điều này khiến bà T mệt mỏi và mong muốn chấm dứt cuộc hôn nhân với ông Nh. Về phía ông Nh, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải nhằm hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa ông Nh và bà T nhưng vẫn vắng mặt, không lý do. Cho thấy, ông Nh không tôn trọng cuộc hôn nhân này.

Nhận thấy hôn nhân là sự tự nguyện của cả hai bên, yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên phía bà T không mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với ông Nh. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Nh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà T xin ly hôn với ông Nh là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho bà Lê Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nhỏ.

[4] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung là cháu Nguyễn Đ (nam) sinh ngày 29/8/2017 của bà Thi, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà T xác định, cháu Đ hiện vẫn đang sống chung với bà, được bà T chăm sóc nuôi dưỡng tốt. Vê điêu kiên kinh tê bà T co chô ơ, công việc làm và thu nhập ổn định nên đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đ trưởng thành, do đó để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống, ổn định cuộc sống hiện tại của cháu Đ. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cháu Nguyễn Đ (nam), sinh ngày 29/8/2017 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng.

[5] Về cấp dưỡng: Do bà T không yêu cầu ông Nh cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.

[8] Từ những tình tiết, chứng cứ nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[9] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ T phải chịu 300.000đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T.

3. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nh.

4. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đ (nam), sinh ngày 29/8/2017 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên.

5. Về cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông Nh cấp dưỡng nuôi con chung nên ông Nh chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Văn Nh không ai được quyền cản trở.

6. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

7. Về nợ chung: Bà Lê Thị Mỹ T xác định không có, không yêu cầu giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.

8. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005682 ngày 02 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành tiền án phí. Bà T đã nộp xong.

9. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

10. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

190
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 02/2021/HNGĐ-ST ngày 13/01/2021 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:02/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành A - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 13/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;