Trọng tài viên nhận hối lộ mà chứng minh được thì có được hủy phán quyết không?

Bấm vào đây để xem bản dịch tiếng Anh của bài viết này Click HERE to see the English translation of this article
Ngày hỏi: 22/10/2022

Trọng tài viên nhận hối lộ mà chứng minh được thì có được hủy phán quyết không? Khi có Trọng tài viên không ký tên vào phán quyết trọng tài thì phán quyểt có hiệu lực không? Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài được quy định như thế nào?

Chào anh chị, công ty tôi thực hiện mua bán với công ty A tại TP. HCM nhưng do bên A chậm giao hàng. Sau khi đã áp dụng nhiều biện pháp mà bên A vẫn không thực hiện đúng thời gian đã thỏa thuận nên tôi có gửi đơn kiện lên Trung tâm trọng tài B nhờ giải quyết. Trong quá trình giải quyết thì tôi từ bên đúng trở thành bên sai. Sau khi ra phán quyết trọng tài thì tôi nhận thấy có dấu hiệu hối lộ, nếu khi tôi chứng minh được hành vi hối lộ thì phán quyết trọng tài này có bị hủy không?

Kính mong Luật sư tư vấn. Tôi cảm ơn.

    • 1. Trọng tài viên nhận hối lộ mà chứng minh được thì có được hủy phán quyết không?

      Theo Điểm d Khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NĐ-HĐTP' onclick="vbclick('3932B', '378913');" target='_blank'>Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NĐ-HĐTP quy định như sau:

      2. Tòa án hủy phán quyết trọng tài quy định tại Điều 58 và Điều 61 Luật TTTM khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
      a) “Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu” là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 6 và Điều 18 Luật TTTM và hướng dẫn tại các điều 2, 3 và 4 Nghị quyết này.
      b) “Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với các quy định Luật TTTM” là trường hợp các bên có thỏa thuận về thành phần Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài nhưng Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng thỏa thuận của các bên hoặc Hội đồng trọng tài thực hiện không đúng quy định Luật TTTM về nội dung này mà Tòa án xét thấy đó là những vi phạm nghiêm trọng và cần phải hủy nếu Hội đồng trọng tài không thể khắc phục được hoặc không khắc phục theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều 71 Luật TTTM.
      c) “Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài” là trường hợp Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 Luật TTTM; hoặc Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp mà không được các bên thỏa thuận yêu cầu Trọng tài giải quyết hoặc giải quyết vượt quá phạm vi của thỏa thuận đưa ra Trọng tài giải quyết.
      Về nguyên tắc, Tòa án chỉ hủy phần quyết định có nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài mà không hủy phán quyết trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết không bị huỷ.
      Trường hợp không thể tách được phần quyết định của Hội đồng trọng tài về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì Tòa án hủy phán quyết trọng tài đó.
      d) “Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài”
      Tòa án chỉ xem xét việc xác định chứng cứ giả mạo nếu có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó và chứng cứ đó phải có liên quan đến việc ra phán quyết, có ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết. Tòa án phải căn cứ vào quy định Luật TTTM, quy tắc tố tụng trọng tài, thỏa thuận của các bên và quy tắc xem xét, đánh giá chứng cứ mà Hội đồng trọng tài áp dụng khi giải quyết vụ việc để xác định chứng cứ giả mạo.
      đ) “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.
      Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định được phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật và nguyên tắc đó có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài.
      Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba.

      Như vậy, theo quy định trên khi Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài mà bên còn lại chứng minh được thì có thể được xem xét hủy phán trọng tài đó.

      Trường hợp này bạn chứng minh được Trọng tài viên nhận hối lộ từ công ty A thì bạn có thể được xem xét hủy phán quyết trọng tài đã có.

      2. Khi có Trọng tài viên không ký tên vào phán quyết trọng tài thì phán quyết có hiệu lực không?

      Theo Điều 61 Luật Trọng tài thương mại 2010' onclick="vbclick('1A633', '378913');" target='_blank'>Điều 61 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định nội dung, hình thức và hiệu lực của phán quyết trọng tài:

      1. Phán quyết trọng tài phải được lập bằng văn bản và có các nội dung chủ yếu sau đây:
      a) Ngày, tháng, năm và địa điểm ra phán quyết;
      b) Tên, địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn;
      c) Họ, tên, địa chỉ của Trọng tài viên;
      d) Tóm tắt đơn khởi kiện và các vấn đề tranh chấp;
      đ) Căn cứ để ra phán quyết, trừ khi các bên có thoả thuận không cần nêu căn cứ trong phán quyết;
      e) Kết quả giải quyết tranh chấp;
      g) Thời hạn thi hành phán quyết;
      h) Phân bổ chi phí trọng tài và các chi phí khác có liên quan;
      i) Chữ ký của Trọng tài viên.
      2. Khi có Trọng tài viên không ký tên vào phán quyết trọng tài, Chủ tịch Hội đồng trọng tài phải ghi việc này trong phán quyết trọng tài và nêu rõ lý do. Trong trường hợp này, phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực.
      3. Phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng.
      4. Phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành. Các bên có quyền yêu cầu Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc cấp bản sao phán quyết trọng tài.
      5. Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

      Theo đó, khi có Trọng tài viên không ký tên vào phán quyết trọng tài, Chủ tịch Hội đồng trọng tài phải ghi việc này trong phán quyết trọng tài và nêu rõ lý do. Trong trường hợp này, phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực.

      3. Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài được quy định như thế nào?

      Căn cứ Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010' onclick="vbclick('1A633', '378913');" target='_blank'>Điều 66 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài, như sau:

      1. Hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 69 của Luật này, bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài.
      2. Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định tại Điều 62 của Luật này.

      Với quy định này thì quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài được thực hiện như trên.

      Trân trọng!

    Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của LawNet . Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email: nhch@lawnet.vn

    Căn cứ pháp lý của tình huống
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn