15/12/2018 15:46

Tìm hiểu về các loại hình thức hòa giải hiện nay (tiếp)

Tìm hiểu về các loại hình thức hòa giải hiện nay (tiếp)

3. Hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự

Về bản chất, xét về phạm vi, Thẩm phán có quyền hòa giải tất cả các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng: dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động và việc thuận tình ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ những vụ việc pháp luật quy định không được hòa giải hoặc hòa giải không được (Điều 206, 207), vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên việc hòa giải này được tiến hành sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về phương thức hòa giải:

Pháp luật tố tụng không quy định thời điểm mở phiên hòa giải cụ thể là bao nhiêu ngày kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ; Thẩm phán sẽ linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao cho phù hợp, miễn là trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Do BLTTDS có quy định nguyên đơn có quyền thay đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên về thực tiễn xét xử, Thẩm phán thường thu thập chứng cứ đầy đủ, toàn diện đối với từng yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập rồi mới mở phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Mặc khác, việc hòa giải vụ án là công khai, theo trình tự thủ tục chặt chẽ của BLTTDS năm 2015.

Về hậu quả pháp lý:

Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án phải lập biên bản hòa giải, ghi đầy đủ những nội dung không thỏa thuận được theo quy định tại Khoản 3 Điều 211 BLTTDS và ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án hoặc thỏa thuận được về toàn bộ nội dung vụ án nhưng không thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ chịu án phí thì thuộc trường hợp hòa giải không thành; trong biên bản hòa Tòa án ghi rõ những nội dung đã được các đương sự thống nhất và những nội dung không thống nhất.

Nếu các đương sự thống nhất được với nhau về toàn bộ các vấn đề giải quyết vụ án (kể cả phần án phí) thì Tòa án mới lập biên bản hòa giải thành, trong đó nêu rõ tranh chấp và nội dung các đương sự thỏa thuận, hướng giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, nếu đương sự nào có thay đổi về sự thỏa thuận trên đây, thì phải làm thành văn bản gửi cho Tòa án. Hết thời hạn này, nếu không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Có một điểm cần lưu ý là hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự và hòa giải thí điểm tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cụ thể hòa giải viên do Tòa án lựa chọn và công nhận, Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, tống đạt văn bản tố tụng…

4. Hòa giải thí điểm tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Về bản chất, xét về phạm vi, Thẩm phán có quyền hòa giải tất cả các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng: dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động và việc thuận tình ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ những vụ việc pháp luật quy định không được hòa giải hoặc hòa giải không được (Điều 206, 207), vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên việc hòa giải này được tiến hành sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về phương thức hòa giải:

Hòa giải viên được quyền quyết định thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải, không buộc phải thu thập chứng cứ đầy đủ rồi mới bắt đầu phiên hòa giải. Mặc khác nếu các bên tranh chấp yêu cầu, Hòa giải viên có thể hòa giải vụ việc ngoài trụ sở Trung tâm hòa giải. Hòa giải viên có được sự linh hoạt, không bị gò bó theo trình tự thủ tục của BLTTDS. Sau khi được phân công vụ việc cần hòa giải, Hòa giải viên sẽ thực hiện nghiên cứu hồ sơ và hòa giải trong thời hạn 20 ngày, trong trường hợp cần thiết việc hòa giải có thể tiến hành trong hai tháng nên được các bên đồng ý. Thông tin trong quá trình hòa giải phải giữ bí mật, tài liệu, lời trình bày của các bên tranh chấp và thông tin thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án không là chứng cứ, trừ trường hợp các bên đồng ý sử dụng các tài liệu, lời trình bày chứng cứ đó tại Tòa án.

Về hậu quả pháp lý:

Hòa giải thí điểm tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án: Nếu hòa giải thành, các bên tranh chấp có thể lựa chọn 02 cách là làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành theo thủ tục việc dân sự; hoặc rút đơn khởi kiện, Tòa án sẽ ban hành thông báo trả đơn khởi kiện theo điểm g khoản 1 Điều 192 BLTTDS.

5. Hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án

Về bản chất, hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án là hòa giải các vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án liên quan đến các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng (dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động).

Về phương thức tiến hành:

Hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự Tòa án là thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án dân sự theo nghĩa rộng. Việc hòa giải vụ án là công khai, theo trình tự thủ tục chặt chẽ của BLTTDS năm 2015. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt.

Về hậu quả pháp lý:

Nếu các bên hòa giải thành với nhau, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nếu các bên không hòa giải thành hoặc hòa giải được một phần vụ việc, Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử. Bản án, quyết định có thể bị kháng cáo phúc thẩm, tái thẩm hay giám đốc thẩm. Như vậy, quá trình tố tụng có thể bị kéo dài do trải qua nhiều cấp xét xử.

6. Hòa giải tho thủ tục tố tụng trọng tài

Về bản chất, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp, bao gồm các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết bằng trọng tài [12] do các bên thỏa thuận. Về nguyên tắc, trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý.

Về phương thức tiến hành:

Trọng tài viên giải quyết vụ việc phải giữ bí mật tranh chấp. Luật Trọng tài thương mại quy định trong quá trình giải quyết vụ việc, các bên được quyền lựa chọn ngôn ngữ, địa điểm giải quyết tranh chấp, trong trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì các bên được lựa chọn luật áp dụng, lựa chọn trọng tài.

Một điểm đáng lưu ý là các quyết định của trọng tài được công nhận quốc tế thông qua công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước New York 1958.

Về hậu quả pháp lý:

Khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết trong vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng tài lập biên bản hoà giải thành có chữ ký của các bên và xác nhận của các Trọng tài viên. Hội đồng trọng tài ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Phán quyết trọng tài mang tính chung thẩm nên các bên đương sự không có cơ hội kháng cáo, kháng nghị.

Đối với phán quyết của trọng tài vụ việc phải đăng ký phán quyết, nếu không đăng ký phán quyết thì cơ quan thi hành án sẽ không hỗ trợ.

Đây là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của LawNet. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email:info@lawnet.vn
Loan Đỗ
1685


Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập

  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;