Bản án về xin ly hôn và nuôi con chung số 26/2022/HNGĐ–ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT – TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 26/2022/HNGĐ – ST NGÀY 05/04/2022 VỀ XIN LY HÔN VÀ NUÔI CON CHUNG 

Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 433/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/202/QĐXX – HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2022/QĐST-NHGĐ ngày 21/3/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Minh Q, sinh năm 1981 Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.

- Bị đơn: Chị Dương Kim D, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn anh Lê Minh Q trình bày: Tôi và chị Dương Kim D có chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk từ ngày 26/9/2006. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2020 hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau và chúng tôi đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Nay, xét thấy giữa tình cảm giữa hai vợ chồng không còn và không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân, vì vậy tôi yêu cầu TAND thành phố Buôn Ma Thuột cho tôi được ly hôn với chị Dương Kim D.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau chúng tôi có 03 đứa con chung là:

1. Cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/7/2012;

2. Cháu Lê Ngọc Như Y, sinh ngày 01/12/2014;

3. Cháu Lê Ngọc Mỹ T, sinh ngày 15/10/2010.

Sau khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 cháu đến tuổi trưởng thành - Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu chị Dương Kim D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Dương Kim D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như phía đương sự chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 207; Điều 220; khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê Minh Q.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Minh Q được ly hôn với chị Dương Kim D.

Về con chung: Giao cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/7/2012; Cháu Lê Ngọc Như Y, sinh ngày 01/12/2014; Cháu Lê Ngọc Mỹ T, sinh ngày 15/10/2010 cho anh Lê Minh Q được trực tiếp chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành.

Chị Dương Kim D được quyền đi lại thăm non con chung không ai có quyền cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Về án phí: Anh Lê Minh Q phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án xét thấy bị đơn – chị Dương Kim D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của chị Dung tại phiên Tòa: Chị Dương Kim D đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm chị D vẫn vắng mặt lần hai không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử vắng mặt chị D.

[3].Về nội dung:

Giữa anh Lê Minh Q và chị Dương Kim D có đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố B vào ngày 26/9/2006 đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Minh Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì được mối quan hệ hôn nhân và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cho anh được ly hôn với chị Dương Kim D.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương nơi đương sự cư trú thì thấy rằng: Trong cuộc sống hằng ngày giữa anh Q và chị D có phát sinh mâu thuẫn, nhưng nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm rõ. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh Q và chị D đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình làm việc với Tòa án anh Q và chị D có nhiều mâu thuẫn, hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau và không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Minh Q đối với chị Dương Kim D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống với nhau giữa anh Q và chị D có 03 con chung là cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/7/2012, cháu Lê Ngọc Như Y, sinh ngày 01/12/2014, cháu Lê Ngọc Mỹ T, sinh ngày 15/10/2010. Sau khi ly hôn anh Q có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung gồm Lê Minh T, Lê Ngọc Như Y, Lê Ngọc Mỹ T ngoài ra sau khi ly thân từ năm 2020 cho đến nay các cháu đều do anh Q chăm sóc và nuôi dưỡng, bản thân các cháu sau khi ly hôn đều có nguyện vọng muốn được ở với anh Lê Minh Q. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bình thường, tránh ảnh hưởng đến tâm lý cho các cháu, nên cần giao cháu cháu Lê Minh Tiến, sinh ngày 17/7/2012, cháu Lê Ngọc Như Y, sinh ngày 01/12/2014, cháu Lê Ngọc Mỹ T, sinh ngày 15/10/2010 cho anh Lê Minh Q được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi trưởng thành.

Chị Dương Kim D được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai có quyền được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Q không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Anh Lê Minh Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Lê Minh Q. Cho anh Lê Minh Q được ly hôn với chị Dương Kim D.

- Về con chung: Giao cháu Lê Minh T, sinh ngày 17/7/2012; cháu Lê Ngọc Như Y, sinh ngày 01/12/2014; cháu Lê Ngọc Mỹ T, sinh ngày 15/10/2010 cho anh Lê Minh Q được trực tiếp chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành.

Chị Dương Kim D được quyền đi lại thăm non con chung không ai có quyền cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải giải quyết.

Về án phí: Anh Lê Minh Q phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm mà anh Lê Minh Q đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0004183 ngày 09/6/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

198
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về xin ly hôn và nuôi con chung số 26/2022/HNGĐ–ST

Số hiệu:26/2022/HNGĐ–ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/04/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;