Bản án về xin ly hôn số 59/2020/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 59/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/11/2020 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 20 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình, thụ lý số: 104/2020/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020, về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2020/QĐST - DS ngày 30 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Q – sinh năm: 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Chỗ ở: Đồn 13, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Bị đơn: Ông Lê Chí L – sinh năm: 1987 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về quan hệ hôn nhân:

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Q trình bày: Bà Q và ông Lê Chí L chung sống với nhau năm 2009, đến năm 2010 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Lộc Ninh. Trước khi chung sống có tìm hiểu thời gian khỏang 01 năm. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông L không quan tâm chăm lo cho gia đình, uống rượu quậy phá đánh đập vợ con làm cho gia đình không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay bà Q xin ly hôn với ông L.

Về con chung: Có 02 con tên Lê Quang H – sinh ngày 24/11/2010 và ê Phương T – sinh ngày 08/12/2016. Hiện con đang sống với bà Q. Khi ly hôn bà Q nuôi 02 con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Bà Q và ông L không nợ ai và không ai nợ lại.

Bị đơn ông Lê Chí L: Ông L vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ, nơi cư trú của ông L có HKTT ở ấp B, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục, tuy nhiên ông L không đến Tòa án để cung cấp lời khai, chứng cứ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật, xác định đúng và đầy đủ tư cách đương sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ quy định của pháp luật.

Bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt là hợp lệ. Ông L vắng mặt nhưng Tòa án đã niêm yết các thủ tục đúng quy định nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đỗ Thị Q.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Q được ly hôn với ông Lê Chí L.

Về con chung: Có 02 con tên Lê Quang H – sinh ngày 24/11/2010 và ê Phương T – sinh ngày 08/12/2016. Con tên Lê Quang H – sinh ngày 24/11/2010 có nguyện vọng sống với bà Q nên giao bà Q nuôi con Lê Quang H và Lê Phương T. Bà Q không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu nên không giải quyết.

Về nợ: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Bà Đỗ Thị Q có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết ly hôn với ông Lê Chí L nên vụ án được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông L cư trú tại xã L, huyện Lộc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ộc Ninh được quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Lê Chí L vắng mặt, tuy nhiên Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết đối với ông L. Bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Tại phiên tòa và quá trình giải quyết vụ án ông L vắng mặt. Tòa án tiến hành tống đạt các thủ tục theo quy định pháp luật nhưng ông L không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có mặt tại phiên tòa, không thực hiện quyền lợi của mình là xem như từ bỏ quyền lợi của mình, nên Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của bà Q và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án, các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được để xem xét. Lời khai bà Q có trong hồ sơ xác định không còn tình cảm với ông L nên vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn. Thời gian chung sống giữa bà Q và ông L phát sinh mâu thuẫn, theo bà Q do do ông L không quan tâm chăm lo cho gia đình, uống rượu quậy phá đánh đập vợ con làm cho gia đình không còn hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà Q và ông L kéo dài không hàn gắn tình cảm được, tình trạng hôn nhân giữa bà Q và ông L đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Q được ly hôn với ông L.

Về con chung: Có 02 con tên Lê Quang H – sinh ngày 24/11/2010 và Lê Phương T – sinh ngày 08/12/2016. Khi ly hôn bà Q yêu cầu được nuôi cả hai con. Hội đồng xét xử xét thấy con tên Lê Quang H có nguyện vọng sống với bà Q, con ê Phương T là con gái và còn nhỏ nên giao bà Q nuôi cả hai con là phù hợp. Bà Q không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu nên không giải quyết.

Về nợ: Không có nên không xem xét.

[3]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà Q phải chịu số tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Điều 39 của Bộ luật dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Đỗ Thị Q;

1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Q được ly hôn với ông Lê Chí L.

2.Về con chung: Bà Q nuôi con Lê Quang H – sinh ngày 24/11/2010 và Lê Phương T – sinh ngày 08/12/2016. Bà Q không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về tài sản chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về nợ: Không có nợ chung.

5. Về án phí: Bà Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0000921 ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

292
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về xin ly hôn số 59/2020/HNGĐ-ST

Số hiệu:59/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 20/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;