TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
BẢN ÁN 53/2024/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2024 VỀ XÁC ĐỊNH CHA CHO CON
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 79/2024/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 6 năm 2024, về việc xác định cha cho con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 836/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 859/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Ngô Văn T, nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Y trình bày: Chị và anh Ngô Văn T là vợ chồng hợp pháp. Do quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nên chị và anh T sống ly thân từ năm 2020. Chị và anh T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 51/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Trong Quyết định này, chị và anh T chỉ xác định và giải quyết đối với 02 con chung là Ngô Thùy D, sinh năm 2011 và Ngô Ngọc A, sinh năm 2014. Trong thời gian sống ly thân với anh T, chị có quan hệ tình cảm với anh Hoàng Duy D và có 01 con trai dự định đặt tên là Hoàng G, sinh ngày 23-11-2021 tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, theo giấy chứng sinh (cấp lại) số 67, quyển số 01/2024. Bản thân anh T cũng biết con trai dự định đặt tên Hoàng G không phải là con anh T. Kết quản xét nghiệm ADN kết luận: Người có mẫu ADN ký hiệu Ngô Văn T với người có mẫu ADN ký hiệu Hoàng G không có quan hệ huyết thống cha - con. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết, xác định cháu trai dự định đặt tên là Hoàng G, sinh ngày 23-11-2021 không phải là con đẻ của anh T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, không giao nộp bản khai cho Tòa án.
Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được thể hiện: Chị Y và anh T ly hôn năm 2022 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 51/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện An Lão.
Trong quá trình giải quyết ly hôn, Chị Y và anh T chỉ thừa nhận có 02 con chung là cháu Ngô Thùy D, Ngô Ngọc A và yêu cầu Tòa án giải quyết đối với 02 con chung này. Trước khi ly hôn, Chị Y và anh T có thời gian dài sống ly thân. Trong thời gian này, Chị Y có quan hệ tình cảm với ngời đàn ông khác và đã sinh một con trai vào ngày 23-11-2021, theo giấy chứng sinh số 011929, quyển số 113/2021; giấy chứng sinh cấp lại số 67, quyển số 01/2024, ngày 22-5-2024 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ADN ngày 03-5-2024 của Trung tâm Công nghệ di truyền Việt Nam kết luận: Mẫu ADN ký hiệu Ngô Văn T và mẫu ADN ký hiệu Hoàng G không có quan hệ huyết thống cha - con.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào Điều 89, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu của Chị Y, xác định cháu trai dự định đặt tên Hoàng G không phải là con của anh T.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án có quan hệ tranh chấp về xác định cha cho con, bị đơn là anh Ngô Văn T, cư trú tại Thôn K, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Y vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh T vắng mặt tại phiên toà mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Chị Y: Chị Y và anh T kết hôn năm 2011. Trong thời gian Chị Y và anh T sống ly thân, Chị Y có sinh một cháu trai vào ngày 23-11- 2021 tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, dự định đặt tên Hoàng G, theo giấy chứng sinh số 011292, quyển số 113/2021; giấy chứng sinh cấp lại số 67, quyển số 01/2024, ngày 22-5-2024. Mặc dù cháu trai dự định đặt tên Hoàng G được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng khi ly hôn, Chị Y và anh T đều không xác định là con chung, thể hiện tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 51/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện An Lão. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm AND ngày 03-5-2024 của Trung tâm Công nghệ di truyền Việt Nam kết luận: Mẫu ADN ký hiệu Ngô Văn T và mẫu ADN ký hiệu Hoàng G không có quan hệ huyết thống cha - con. Vì vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị Y, xác định cháu trai dự định đặt tên Hoàng G không phải là con của anh T theo Điều 89, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của Chị Y được chấp nhận nên anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Chị Y được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 89, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y, xác định cháu trai dự định đặt tên Hoàng G, sinh ngày 23-11-2021 tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, theo giấy chứng sinh số 011929, quyển số 113/2021; giấy chứng sinh cấp lại số 67, quyển số 01/2024, ngày 22-5-2024 không phải là con của anh Ngô Văn T.
2. Về án phí:
2.1. Anh Ngô Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị Y số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0007439 ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Y và anh Ngô Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về xác định cha cho con số 53/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 53/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện An Lão - Hải Phòng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 30/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về