Bản án về tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải số 37/2024/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 37/2024/LĐ-PT NGÀY 28/03/2024 VỀ TRANH CHẤP XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG THEO HÌNH THỨC SA THẢI

Trong các ngày 20 và ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai Vụ án thụ lý số 11/2024/TLPT-LĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 47/2023/LĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 481/2024/QĐPT-LĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2062/2024/QĐPT-LĐ ngày 26/02/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H; sinh năm: 1980;

Địa chỉ: B Lô O đường B, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N; sinh năm: 1967 (Theo giấy ủy quyền số công chứng 019174 ngày 21/11/2017 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh);

Địa chỉ thường trú: Số C (Lầu A) đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 177/31 Đường Số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ;

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Tân S; sinh năm: 1962; Chức danh: Giám đốc;

Địa chỉ: Số C đường N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt.

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Trần Thị Thu H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 10 năm 2013; đơn khởi kiện bổ sung ngày 29 tháng 4 năm 2014 của bà Trần Thị Thu H và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh N trình bày:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ thành lập ngày 21/02/2009, ngay sau khi thành lập bà H vào làm việc cho Công ty và ký Hợp đồng lao động có thời hạn 02 năm từ 01/3/2009 đến 01/3/2011, hết thời hạn nêu trên, Công ty T2 ký hợp đồng có thời hạn đến ngày 02/3/2013, sau tiếp tục ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn kể từ 03/3/2013 đến nay (Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013) với chức danh chuyên môn là Thạc sĩ Bản đồ Viễn thám, chức vụ là Phó Giám đốc Công ty, mức lương chính là 9.016.950 đồng.

Ngày 08/7/2013, bà H gửi cho Công ty bản kiến nghị nêu một số yêu sách yêu cầu công ty thực hiện. Các ngày tiếp theo bà đến Công ty làm việc không liên tục, cụ thể: Vào ngày 09, 11, 13 bà đến Công ty theo yêu cầu của lãnh đạo Công ty làm việc liên quan đến bản yêu sách nêu trên, ngày 10 và 12 tháng 7 năm 2013 nghỉ.

Ngày 15/7/2013, Công ty M bà đến họp xét kỷ luật và bà đến Công ty nhưng cuộc họp không thực hiện do Giám đốc là ông Nguyễn Tân S đi vắng. Ông T chủ trì cuộc họp nhưng không có giấy ủy quyền của ông S nên bà và các nhân viên khác không đồng ý họp nên Công ty dời cuộc họp sang ngày 16/7/2013. Ngày 16/7/2013, bà đến Công ty và bị buộc viết bản tường trình sự việc nên bà không đồng ý họp và bỏ về vì thấy Công ty không tôn trọng người lao động. Đến ngày 31/7/2013, bà nhận được Biên bản họp ngày 16/7/2013 về việc xử lý kỷ luật lao động đối với bà do Công ty tự họp không có sự tham dự của bà.

Ngày 27/8/2013, Công ty gửi cho bà qua email Quyết định số 02270813/ĐH về việc thi hành kỷ luật lao động theo hình thức sa thải đối với bà H do Chủ tịch Hội đồng thành viên - Ông Trương Hùng P ký. Ngày 25/9/2013, Công ty gửi cho bà qua email Quyết định về việc chấm dứt Hợp đồng lao động số 02250913/ĐH do Giám đốc Công ty - Ông Nguyễn Tân S ký và bảng công nợ. Do không đồng ý với các quyết định này nên bà đã yêu cầu Liên đoàn Lao động quận T tiến hành hòa giải với Công ty nhưng Công ty không đến dự phiên hòa giải ngày 05/8/2013. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Quyết định sa thải số 02270813/ĐH ngày 27/8/2013 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ.

- Công ty phải bồi thường 02 tháng tiền lương theo hợp đồng (9.016.950 đồng) do sa thải trái pháp luật là 18.033.000 đồng.

- Công ty T3 trong những ngày bà H không được làm việc từ 01/7/2013 đến thời điểm tòa tuyên án theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng.

- Bà H không muốn tiếp tục làm việc nên bà yêu cầu Công ty trả trợ cấp thôi việc 04 năm x 1/2 tháng lương (9.016.950 đồng) = 18.033.000 đồng.

- Công ty thanh toán tiền tàu xe năm 2010 là 3.600.000 đồng và tiền thai sản do Công ty không cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho bà H là 7.000.000 đồng.

- Công ty trả tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế trong thời gian bà H không được làm việc đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại đơn thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2023, bà H rút một phần yêu cầu về khoản tiền lương trong những ngày bà H không được làm việc từ 17/3/2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng và khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ ngày 17/3/2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Đồng thời, buộc Công ty Đ trả trợ cấp thôi việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 là 22.542.000 đồng.

* Trong Văn bản phản tố ngày 28 tháng 4 năm 2014, bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn có người đại diện theo ủy quyền là bà Võ Thúy H1 trình bày:

Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đ thừa nhận trình bày của nguyên đơn về việc ký kết Hợp đồng lao động, nội dung hợp đồng và quá trình thực hiện, nhưng không đồng ý với những yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy Quyết định sa thải số 02270813/ĐH ngày 27/8/2013 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ, buộc Công ty Đ phải bồi thường 02 tháng tiền lương do sa thải trái pháp luật, trả tiền lương trong những ngày bà H không được làm việc, trả trợ cấp thôi việc, thanh toán tiền tàu xe, tiền thai sản và trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Công ty Đ cho rằng Hợp đồng lao động này bị vô hiệu bởi việc ký kết không đúng thẩm quyền và trình tự pháp luật quy định, cụ thể: Tại điểm a khoản 1 Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về Hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp thuận: “1. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Hội đồng thành viên chấp thuận: a) Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty”.

Căn cứ vào Giấy phép kinh doanh số: 0307208745 ngày 21/02/2009, điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2005, căn cứ vào Biên bản hợp Hội đồng thành viên Công ty Đ ngày 02/07/2010 về việc bầu ông Trương Hùng P làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, căn cứ vào Điều 15 Điều lệ của Công ty ban hành ngày 10/02/2009 quy định Hội đồng thành viên bao gồm các thành viên, quyền hạn và nhiệm vụ của Hội đồng thành viên : “....,e) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, miễn nhiệm, cách chức, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, kế toán trưởng và người quản lý khác…”. Bà H là thành viên Công ty được bổ nhiệm chức danh Phó Giám đốc là thuộc trường hợp “Người quản lý khác” theo quy định tại điều này. Vì vậy, Công ty ký hợp đồng lao động với bà H bắt buộc phải thông qua quyết định của Hội đồng thành viên, mà người thay mặt Hội đồng thành viên ký quyết định là Chủ tịch Hội đồng (điểm e, Điều 17 Điều lệ Công ty). Theo đó, hợp đồng lao động giữa bà H và Công ty được ký kết phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên mà Chủ tịch là ông Trương Hùng P. Việc người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ và bà H ký và tái ký các hợp đồng lao động nói trên không có sự chấp thuận Hội đồng thành viên. Bản thân bà H là thành viên Hội đồng thành viên nhưng đã làm trái quy định pháp luật, ông Nguyễn Tân S là người đại diện theo pháp luật cho Công ty Đ cũng không trình báo cho Hội đồng thành viên biết về giao dịch này và sự tồn tại các hợp đồng lao động đối với thành viên là bà H, cho thấy rõ việc ký Hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Tân S và bà Trần Thị Thu H là trái luật do vi phạm điểm a khoản 1 Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2005 và điểm e Điều 17 Điều lệ Công ty nên Hợp đồng lao động này là vô hiệu. Vì vậy, bà H khởi kiện cho rằng Công ty có hành vi sa thải trái luật đối với bà là không có căn cứ, nên Công ty không có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo Điều 42 Bộ luật lao động.

Tranh chấp giữa bà H và Công ty Đ là tranh chấp về kinh doanh thương mại, vì trong quá trình làm việc tại Công ty, bà H đã không thực hiện đúng vai trò và chức trách của mình. Vì lợi ích cá nhân của bà liên quan đến mối quan hệ về kinh doanh thương mại giữa bà và Công ty, cụ thể là tranh chấp về phần vốn góp của bà vào Công ty là 450.000.000 đồng (chiếm 2,91% toàn bộ vốn điều lệ của doanh nghiệp). Trong quá trình hoạt động kinh doanh, bà H yêu cầu Công ty Đ mua lại phần vốn góp của bà và thường 50% số vốn góp vào Công ty. Để thực hiện được yêu cầu này, bà H đã lợi dụng quyền hạn của mình là Phó giám đốc đã có hành vi khuyến dụ, xúi giục người lao động, tạo cho họ có niềm tin lệch lạc nên họ đã hưởng ứng lời kêu gọi của bà H dẫn đến họ đã có hành vi vi phạm hợp đồng lao động, vi phạm về nghĩa vụ của người lao động đối với người sử dụng lao động, họ đã thực hiện theo yêu cầu của bà H nên đã đồng loạt đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật đối với Công ty, nguyên nhân là do bà H cho rằng Công ty không đáp ứng được các yêu cầu của bà. Thấy rằng yêu cầu của người lao động là không đúng quy định của pháp luật nhưng Giám đốc Công ty là ông Nguyễn Tân S đã yêu cầu bà H và tập thể lao động phải trở lại vị trí làm việc, việc người lao động đề nghị phải chờ Ban Giám đốc Công ty Đ hợp xem xét theo trình tự pháp luật quy định và sẽ trả lời chính thức cho người lao động nhưng họ vẫn tự ý nghỉ làm việc mà không cần ý kiến Công ty. Trước tình trạng cấp bách do hành động vô kỷ luật của người lao động, công trình không được thực hiện theo đúng tiến độ dẫn đến hậu quả Công ty phải chịu trách nhiệm hết sức nặng nề trước chủ đầu tư và chi phí khắc phục hậu quả, đặc biệt là uy tín của Công ty Đ.

Từ ngày 08/07/2013, bà H không còn làm việc tại Công ty. Đến ngày 15/7/2013, bà H có đến Công ty theo giấy mời hợp để giải quyết vụ việc (xem xét về việc nghỉ làm việc của bà H theo thông báo của bà và đối thoại về các yêu sách bà đưa ra cho Công ty) nhưng bà H không hợp tác, với lý do không có mặt ông S mặc dù ông P đã thông báo do S đi công tác nên có giấy ủy quyền bằng văn bản của ông S ủy quyền cho ông Trương Hùng P chủ trì cuộc họp. Tuy nhiên, bà H vẫn không đồng ý hợp tác cho nên cuộc họp không tiến hành được mà phải hoãn lại. Ngày 16/07/2013, bà H có đến Công ty làm bản tường trình và dự họp nhưng cố tình gây rối và không ký vào biên bản họp, cũng không ghi ý kiến bảo lưu. Sau ngày 16/7/2013, bà H không đến Công ty Đ một lần nào nữa, sau đó Công ty đã thông báo lại cho bà H về nội dung xem xét hành vi trái luật của bà, đề nghị bà có ý kiến phản hồi nhưng suốt một thời gian dài Công ty không nhận được thông tin trả lời của bà H. Nếu bà H cho rằng bà là người lao động của Công ty thì thời điểm Công ty ra quyết định sa thải bà là đã quá 45 ngày kể từ ngày bà H gửi đơn thông báo nghỉ việc và đã nghỉ việc ngày 08/07/2013. Đến ngày 27/08/2013, Công ty Đ mới hành Quyết định số 02270813/ĐH về việc thi hành kỷ luật lao động đối với bà H nhằm chấm dứt hồ sơ lao động của bà H trong nội bộ Công ty và Công ty Đ không gửi quyết định này cho bà H. Căn cứ vào thực tế khách quan thì quyết định này của Công ty Đ là thừa trong quá trình giải quyết vụ việc vì không cần ban hành quyết định này thì bà H cũng đã nghỉ việc trước đó, nên hành vi ban hành quyết định sa thải bà H của Công ty Đ không làm ảnh hưởng, thay đổi bản chất khách quan của hành vi tranh chấp kinh doanh thương mại, hành vi trái pháp luật của bà H diễn ra đã hoàn thành (gần 02 tháng) trước khi Công ty ra quyết định sa thải. quyết định sa thải không phải là nguyên nhân làm cho bà H bị nghỉ việc. Vì vậy, bà H yêu cầu Công ty thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng lao động do ban hành Quyết định sa thải trái luật đối với bà theo Điều 42 Bộ luật lao động là không có căn cứ pháp luật.

Tại đơn phản tố ngày 28 tháng 4 năm 2014, bị đơn Công ty Đ yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Tuyên bố Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013 ký giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn D và bà Trần Thị Thu H vô hiệu.

- Buộc bà Trần Thị Thu H phải bồi thường cho Công ty Đ 1/2 tháng tiền lương và 45 ngày lương do vi phạm thời gian báo trước theo Hợp đồng lao động là 9.016.950 đồng x 02 = 18.333.900 đồng.

- Buộc bà Trần Thị Thu H hoàn trả lại tiền tạm ứng cho Công ty Đ số tiền 23.394.000 đồng (là tiền lương tháng 13/2012, chi phí đi lại và tiền tạm ứng khác).

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Công ty Đ rút phần yêu cầu bà H bồi thường 1/2 tháng tiền lương, 45 ngày lương do vi phạm thời gian báo trước là 18.333.900 đồng và hoàn trả số tiền tạm ứng 23.394.000 đồng.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 47/2023/LĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H.

Hủy Quyết định số 02270813/ĐH ngày 27/8/2013 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ về kỷ luật sa thải đối với bà Trần Thị Thu H.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đòi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ bồi thường 02 tháng tiền lương là 18.033.000 đồng, trả tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng với số tiền 772.500.000 đồng, trả trợ cấp thôi việc là 22.542.000 đồng, thanh toán tiền tàu xe năm 2010 là 3.600.000 đồng, tiền thai sản là 7.000.000 đồng, trả tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trong thời gian không được làm việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 với số tiền 34.957.000.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Trần Thị Thu H về khoản tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 17/3/2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng và khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ ngày 17/3/2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.

4. Chấp nhận yêu cầu phân tố của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ.

Tuyên bố Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013 ký giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ và bà Trần Thị Thu H vô hiệu.

5. Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu phân tố của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ về khoản bồi thường 1/2 tháng tiền lương, tiền lương 45 ngày do vi phạm quy định về thời hạn báo trước là 18.333.900 đồng và khoản tiền tạm ứng 23.394.000 đồng; tổng cộng là 41.427.900đ (Bốn mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn chín trăm) đồng.

Ngoài ra Bản án lao động sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 14/11/2023, nguyên đơn - bà Trần Thị Thu H nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 47/2023/LĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn là bà Trần Thị Thu H không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện. Nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác so với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập tại Tòa cấp sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

* Nguyên đơn là bà Trần Thị Thu H có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh N trình bày:.

Nguyên đơn kháng cáo phần Quyết định Tòa cấp sơ thẩm đã tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đòi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ bồi thường 02 tháng tiền lương là 18.033.000 đồng, trả tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng với số tiền 772.500.000 đồng, trả trợ cấp thôi việc là 22.542.000 đồng, thanh toán tiền tàu xe năm 2010 là 3.600.000 đồng, tiền thai sản là 7.000.000 đồng, trả tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trong thời gian không được làm việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 với số tiền 34.957.000. Các phần còn lại nguyên đơn không kháng cáo. Nguyên đơn công nhận Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013 ký giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ và bà Trần Thị Thu H vô hiệu. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ có người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Tân S trình bày: Bị đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau:

Về Đơn kháng cáo của các đương sự: Đơn kháng cáo nguyên đơn trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận.

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 108 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 47/2023/LĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Trần Thị Thu H trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - bà Trần Thị Thu H.

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bồi thường 02 tháng tiền lương là 18.033.000 đồng, trả tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng với số tiền 772.500.000 đồng, trả trợ cấp thôi việc là 22.542.000 đồng Bà Trần Thị Thu H vào làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ từ ngày 01/3/2009. Các bên đã ký và thực hiện hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 01/3/2009 đến ngày 01/3/2011, hợp đồng xác định thời hạn từ ngày 02/3/2011 đến ngày 02/3/2013. Sau khi hợp đồng xác định thời hạn hết hạn, các bên đã ký và thực hiện hợp đồng không xác định thời hạn từ ngày 03/3/2013 (Hợp đồng lao động số: 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013). Theo đó, bà H đảm nhận chức danh chuyên môn là Thạc sỹ bản đồ viễn thám, chức vụ Phó Giám đốc Công ty; công việc phải làm: Tham gia công tác khảo sát địa hình, thiết kế, các công việc khác theo yêu cầu và sự điều động của Giám đốc Công ty, mức lương chính thức là 9.016.950 đồng.

Tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, mã số doanh nghiệp: 0307208745, đăng ký lần đầu: ngày 21 tháng 02 năm 2009 và đăng ký thay đổi lần thứ 3: ngày 15 tháng 02 năm 2012 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ có vốn điều lệ là 15.480.000.000 đồng, trong đó danh sách thành viên góp vốn gồm Công ty Cổ phần T4 có giá trị phần góp vốn 14.580.000.000 đồng tương ứng phần vốn góp 94,18% toàn bộ vốn điều lệ của doanh nghiệp, bà Trần Thị Thu H góp vốn 450.000.000 đồng tương ứng với tỷ lệ phần góp vốn là 2,91% và ông Võ Thiên C góp vốn 450.000.000 đồng tương ứng với phần tỷ lệ góp vốn là 2,91%. Người đại diện theo pháp luật, Giám đốc Công ty N1. Như vậy, căn cứ theo khoản 1 Điều 47 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì bà H là thành viên Hội đồng thành viên Công ty Đ.

Điều 47 Luật doanh nghiệp năm 2005, Điều 15 Điều lệ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ quy định Hội đồng thành viên như sau: “... Hội đồng thành viên có các quyền và nhiệm vụ sau đây: đ) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký và chấm dứt hợp đồng với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty”.

Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 59 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định: “1. Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải được Hội đồng thành viên chấp thuận: a) Thành viên, người đại diện theo ủy quyền của thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty,... 2. Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật khi được giao kết không đúng quy định tại khoản 1 Điều này. Người đại diện theo pháp luật của công ty, thành viên có liên quan và người có liên quan của thành viên đó phải bồi thường thiệt hại phát sinh, hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó”.

Khoản 1 và khoản 4 Điều 23 Điều lệ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ quy định: “1. Hội đồng thành viên thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp, hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. 4. Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi được số thành viên đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ chấp thuận”.

Như vậy, theo các quy định nêu trên thì thành viên Hội đồng thành viên có thể ký hợp đồng với Công ty nếu Hội đồng thành viên Công ty chấp nhận bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi được số thành viên đại diện ít nhất 75% vốn điều lệ chấp thuận. Hợp đồng lao động giữa Công ty Đ với bà H là hợp đồng giữa Công ty với thành viên Hội đồng thành viên nên phải tuân thủ quy định nêu trên.

Bà Trần Thị Thu H là thành viên góp vốn cho rằng thời điểm Công ty Đ và bà Trần Thị Thu H ký Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ thì 03 thành viên góp vốn của Công ty Đ, trong đó có bà Trần Thị Thu H đều biết và đồng ý. Tuy nhiên, Công ty Cổ phần T4 là thành viên Hội đồng thành viên, với tỷ lệ phần góp vốn là 94,18% xác định Công ty Đ ký các hợp đồng lao động với bà H không được phía Công ty Đ thông báo và không được sự chấp thuận từ phía Công ty Cổ phần T4. Đối với thành viên còn lại là ông Võ Thiên C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên không rõ ý kiến. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện Công ty Đ đều xác định việc ông Nguyễn Tân S - Giám đốc Công ty ký các hợp đồng lao động với bà H không thông qua các thành viên góp vốn Công ty Đ. Bà H cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh các thành viên Hội đồng thành viên Công ty C2 việc ký các hợp đồng lao động này.

Điểm f, k khoản 2 Điều 18 Điều lệ quy định Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc có các quyền và nhiệm vụ: “f) Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên. k) Các quyền và nhiệm vụ khác được quy định trong Hợp đồng lao động mà Giám đốc hoặc Tổng giám đốc ký với công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên”. Điểm d khoản 1 Điều 20 Điều lệ quy định nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc: “1. Thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc công ty có các nghĩa vụ sau đây: d) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty”. Như vậy, Người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ giao kết hợp đồng lao động với bà Trần Thị Thu H - Thành viên Hội đồng thành viên Công ty Đ mà không được Hội đồng thành viên Công ty thông qua thì được xác định là giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 137, Điều 146 Bộ luật dân sự như nhận định của Tòa cấp sơ thẩm là có căn cứ.

Từ những nhận định nêu trên, có cơ sở xác định các hợp đồng lao động giữa Công ty Đ và bà Trần Thị Thu H vô hiệu toàn bộ theo quy định tại khoản 4 Điều 166 Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002 (khoản 1 Điều 50 Bộ luật lao động năm 2012) nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa Công ty Đ và bà Trần Thị Thu H. Do đó, Quyết định xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải số 02270870813/ĐH ngày 27/8/2013 của Công ty Đ đối với bà H là không đúng quy định pháp luật. Tòa cấp sơ thẩm hủy Quyết định số 02270813/ĐH ngày 27/8/2013 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ về kỷ luật sa thải đối với bà Trần Thị Thu H, Không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc giải quyết các chế độ chính sách của việc bị sa thải như bồi thường 02 tháng tiền lương do sa thải trái pháp luật, trả tiền lương trong những ngày không được làm việc, trả trợ cấp thôi việc, trả tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trong thời gian không được làm việc là có căn cứ. Tòa cấp phúc thẩm giữ nguyên phần này của Bản án sơ thẩm.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền tàu xe năm 2010 với số tiền 3.600.000 đồng Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày Công ty địa H2 có quy định người lao động được thanh toán tiền tàu xe 01 năm là 10.000.000 đồng. Năm 2010, Công ty Đ chưa thanh toán khoản tiền này cho nguyên đơn. Tuy nhiên, lời trình bày của nguyên đơn không được bị đơn thừa nhận. Nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ. Tòa cấp phúc thẩm giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn thanh toán tiền thai sản 7.000.000 đồng Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày Công ty địa H2 không giao thẻ bảo hiểm y tế cho bà H nên bà H không được bảo hiểm khám chữa bệnh trong quá trình thai sản và bà H phải trả chi phí 7.000.000 đồng. Lời trình bày của nguyên đơn không được bị đơn thừa nhận. Nguyên đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ. Tòa cấp phúc thẩm giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

[3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Đ yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013 giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ và bà Trần Thị Thu H vô hiệu, Như đã trình bày ở trên, Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013 giữa Công ty Đ và bà H đã bị vô hiệu ngay từ thời điểm các bên xác lập, Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bị đơn tuyên bố Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ vô hiệu là có căn cứ. Tòa cấp phúc thẩm giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 47/2023/LĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về án phí [4.1] Về án phí lao động sơ thẩm:

- Công ty Đ phải chịu án phí lao động sơ thẩm không có giá ngạch là 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng do yêu cầu khởi kiện của bà H về hủy Quyết định số 02270813/ĐH ngày 27/8/2013 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ được chấp nhận.

- Bà H là người lao động khởi kiện yêu cầu bồi thường liên quan đến vấn đề quyền lợi bị sa thải nên theo quy định tại khoản 2 Điều 11 và khoản 5 Điều 16 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 thì bà H thuộc trường hợp được miễn án phí.

- Yêu cầu của bà H về việc buộc Công ty Đ thanh toán tiền tàu xe năm 2010 là 3.600.000 đồng không được chấp nhận. Theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà H phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng.

- Yêu cầu phản tố của Công ty Đ được chấp nhận nên bà H phải chịu án phí lao động sơ thẩm không có giá ngạch là 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng. Tuy nhiên, do yêu cầu phản tố của Công ty Đ liên quan đến vấn đề người lao động bị sa thải, theo quy định tại khoản 2 Điều 11 và khoản 5 Điều 16 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 thì bà H thuộc trường hợp được miễn án phí.

[4.2] Về án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn - bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí lao động phúc thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) do kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền tàu xe năm 2010 không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 166 của Bộ luật lao động năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 50; Điều 51 và khoản 2 Điều 52 của Bộ luật lao động năm 2012;

Căn cứ vào Điều 47; Điều 52; Điều 54; Điều 55; Điều 56 và Điều 59 Luật doanh nghiệp năm 2005;

Căn cứ vào Điều 137 và Điều 146 của Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 11; khoản 5 Điều 16 và khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn - Bà Trần Thị Thu H, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 47/2023/LĐ-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H.

Hủy Quyết định số 02270813/ĐH ngày 27/8/2013 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ về kỷ luật sa thải đối với bà Trần Thị Thu H.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H đòi Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ bồi thường 02 tháng tiền lương là 18.033.000 đồng, trả tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng với số tiền 772.500.000 đồng, trả trợ cấp thôi việc là 22.542.000 đồng, thanh toán tiền tàu xe năm 2010 là 3.600.000 đồng, tiền thai sản là 7.000.000 đồng, trả tiền bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế trong thời gian không được làm việc từ ngày 01/7/2013 đến 16/3/2017 với số tiền 34.957.000.

3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Trần Thị Thu H về khoản tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 17/3/2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo mức lương 15.000.000 đồng/tháng và khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ ngày 17/3/2017 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.

4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ.

Tuyên bố Hợp đồng lao động số 11030313/HĐLĐ ngày 03/3/2013 ký giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ và bà Trần Thị Thu H vô hiệu.

5. Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ về khoản bồi thường ½ tháng tiền lương, tiền lương 45 ngày do vi phạm quy định về thời hạn báo trước là 18.333.900 đồng và khoản tiền tạm ứng 23.394.000 đồng; tổng cộng là 41.427.900đ (Bốn mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn chín trăm đồng).

6. Về án phí 6.1. Về án phí lao động sơ thẩm:

- Bà Trần Thị Thu H được miễn án phí lao động sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường 02 tháng tiền lương do sa thải trái pháp luật, trả tiền lương trong những ngày không được làm việc, trả trợ cấp thôi việc, thanh toán tiền thai sản, trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian không được làm việc và yêu cầu phản tố của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ được chấp nhận.

- Bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số AA/2023/0023210 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số AA/2023/0023308 ngày 06 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ số tiền chênh lệch 100.000đ (Một trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số AA/2023/0023308 ngày 06 tháng 7 năm 2023 và số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số AD/2012/07002 ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

6.2. Về án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn - bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí lao động phúc thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) bà H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số AA/2023/0024066 ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Thu H đã nộp đủ án phí lao động phúc thẩm.

7. Các đương sự thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

298
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải số 37/2024/LĐ-PT

Số hiệu:37/2024/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành: 28/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;