Bản án về tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải số 1264/2023/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1264/2023/LĐ-PT NGÀY 27/12/2023 VỀ TRANH CHẤP XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG THEO HÌNH THỨC SA THẢI

Trong các ngày 08 và ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai Vụ án thụ lý số 59/2023/TLPT-LĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 20/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5019/2023/QĐPT-LĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 15635/2023/QĐPT-LĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 16481/2023/QĐST-LĐ ngày 08/12/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Tuyết H; sinh năm: 1994;

Địa chỉ: Chung cư S, khu phố A, đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Có mặt;

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Minh T; sinh năm: 1982; là luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: G Đường số A, Khu đô thị H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/12/2023.

2. Bị đơn:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn L2;

Địa chỉ: Lô B.01-10 đường T, khu chế xuất T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Gregory Ian F - Chức vụ: Tổng Giám đốc; Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Đỗ Quỳnh H1, sinh năm: 1975 (Theo Giấy ủy quyền số 01/2023/11/UQ-TGD); Bà Nguyễn Diệp L; sinh năm: 1992 và/hoặc ông Võ Đức Mai K; sinh năm: 1999; địa chỉ: Tòa nhà L, Số I-Khu B đường N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Bà H1 và bà L có mặt, ông K vắng mặt.

3. Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của các đương sự cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Tháng 10/2019, bà Nguyễn Thị Tuyết H và Công ty TNHH L2 có ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm (10/2019 -10/2020), chức danh là Nhân viên Xuất nhập khẩu.

Tháng 6/2020, Công ty TNHH L2 chấm dứt hợp đồng lao động với nhiều người lao động trong công ty, trong đó có bà Nguyễn Thị Tuyết H vì công ty không có đơn hàng. Tuy nhiên, từ Tháng 6 năm 2020 đến tháng 01 năm 2021 bà Nguyễn Thị Tuyết H vẫn làm việc tại Công ty TNHH L2 nhưng không ký hợp đồng lao động. Bà H làm việc dưới hình thức cung cấp dịch vụ theo tờ khai, với mức phí dịch vụ là 500.000đồng/tờ khai.

Tháng 01 năm 2021, bà Nguyễn Thị Tuyết H và Công ty TNHH L2 ký Hợp đồng lao động loại xác định thời hạn là 01 năm (từ tháng 01 tháng 2021 đến ngày 14 tháng 12 năm 2021) với chức danh xuất nhập khẩu và thực tế công việc của bà Nguyễn Thị Tuyết H là kiêm nhiệm trợ lý sản xuất. Ngoài ra, bà Tuyết H còn làm thêm dịch vụ xuất nhập khẩu cho Công ty TNHH L2 với phí dịch vụ là 500.000 đồng/tờ khai, thanh toán bằng tiền mặt.

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, bà Nguyễn Thị Tuyết H và Công ty TNHH L2 ký Hợp đồng lao động số 202112/HĐLĐ/HOV- 282, loại hợp đồng lao động xác định thời hạn hai năm (từ ngày 15 tháng 12 năm 2021 đến ngày 14 tháng 12 năm 2023), chức danh chuyên môn là Nhân viên Xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế bà H kiêm nhiệm luôn vị trí trợ lý sản xuất, theo đó mức lương chính của bà H là 14.809.438 đồng/tháng. Tiền lương này đã bao gồm tất cả các khoản phúc lợi và nghĩa vụ phát sinh theo pháp luật về lao động và đã bao gồm thuế thu nhập cá nhân.

Trong tháng 05 năm 2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H vẫn tiếp tục cung cấp dịch vụ làm tờ khai xuất nhập khẩu cho công ty, mỗi tờ khai Công ty TNHH L2 sẽ thanh toán cho bà H số tiền 500.000 đồng/tờ khai. Ngoài tiền lương, tổng số tiền làm tờ khai xuất nhập khẩu mà Công ty TNHH L2 cần thanh toán cho bà H là 7.500.000 đồng.

Ngày 01 tháng 06 năm 2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H và Công ty TNHH L2 đã ký kết Phụ lục hợp đồng số 01/ANNEX 01, đính kèm Hợp đồng lao động số 202112/HĐLĐ/HOV-282, theo đó thay đổi chức danh từ “Xuất nhập khẩu” thành “Quản lý Logistics” và tăng tiền lương chính của bà H lên số tiền 18.952.005 đồng/tháng.

Tháng 06 năm 2022 Công ty TNHH L2 có thay đổi Giám đốc từ Bà M sang Ông Gregory Ian F. Ông Gregory Ian F từ chối thanh toán cho bà H các chi phí dịch vụ của công việc Xuất nhập khẩu tháng 05 năm 2022 và “Trợ lý sản xuất" từ ngày 01 tháng 06 năm 2022 đến ngày 16 tháng 06 năm 2022. Số tiền mà Công ty TNHH L2 chưa thanh toán là 11.000.000 đồng. Ngày 06 tháng 10 năm 2022, do Công ty TNHH L2 không đồng ý trả các khoản phí dịch vụ nêu trên cho bà H nên bà H đã nộp đơn xin nghỉ việc và đề nghị được thôi việc kể từ ngày 05 tháng 11 năm 2022.

Cùng ngày 06 tháng 10 năm 2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H và Công ty TNHH L2 đã ký Thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động số 20212/HĐLĐ/HOV-282 và cùng ngày Công ty TNHH L2 ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng số 0610/2022/HOV/QĐ đối với bà Nguyễn Thị Tuyết H kể từ ngày 05 tháng 11 năm 2022; Công ty TNHH L2 sẽ thanh toán tiền lương thực nhận theo Hợp đồng lao động của bà H dựa trên số ngày làm việc tính đến ngày 05/11/2022 chậm nhất vào ngày 07/11/2022. Công ty TNHH L2 sẽ thanh toán cho cơ quan nhà nước tiền thuế Thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho bà Nguyễn Thị Tuyết H đến ngày 30/10/2022 và hoàn trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Thị Tuyết H sau khi hoàn tất thủ tục với cơ quan bảo hiểm xã hội. Bà Nguyễn Thị Tuyết H sẽ bàn giao hồ sơ, chứng từ và công việc liên quan cho Công ty TNHH L2 trước ngày chấm dứt.

Ngày 08/10/2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H vẫn đến Công ty làm việc bình thường.

Ngày 10/10/2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H nghỉ bệnh 01 ngày có giấy khám bác sĩ được nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội.

Từ ngày 11/10/2022 đến ngày 13/10/2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H xin nghỉ phép 03 ngày đã được Tổng Giám đốc Công ty TNHH L2 - Ông Gregory Ian F duyệt. Đơn xin nghỉ phép này đã được duyệt từ tháng 09/2022.

Vào ngày 20/10/2022, Công ty TNHH L2 ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA, theo đó áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với bà Nguyễn Thị Tuyết H, với lý do:

(i) Bà Nguyễn Thị Tuyết H vẫn chưa hoàn thành việc bàn giao theo nội dung Quyết định tóm tắt bàn giao số BB/1410/2022/HOV/HOA ngày 14/10/2022 nên được xem như không thực hiện bàn giao.

(ii) Từ ngày 14/10/2022 đến ngày 19/10/2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H có đến công ty làm việc nhưng không làm việc nên được xem là vắng mặt tại nơi làm việc không có lý do chính đáng trong 05 ngày liên tục.

Ngày 25/10/2022, bà Nguyễn Thị Tuyết H có nộp đơn đề nghị hòa giải tranh chấp lao động Quận G.

Ngày 02/11/2022, Liên Đoàn Lao động Q có tổ chức buổi hòa giải cho bà Nguyễn Thị Tuyết H và Công ty TNHH L2, nhưng buổi hòa giải không thành vì Công ty TNHH L2 không đồng ý giải quyết các yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết H. (đính kèm biên bản hòa giải tranh chấp lao động).

Do Công ty TNHH L2 ban hành Quyết định xử lý kỷ luật sa thải đối với bà H trái pháp luật, bà Nguyễn Thị Tuyết H khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết:

1. Hủy bỏ Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 của Công ty TNHH L2.

2. Buộc Công ty TNHH L2 phải trả cho Bà Nguyễn Thị Tuyết H tiền lương còn thiếu, tính từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/10/2022 (trừ đi 4.5 ngày nghỉ không hưởng lương và 1,5 ngày phép năm được hưởng lương = 3 ngày phép không lương), theo đó số ngày làm việc từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/10/2022 là 17 ngày - 03 ngày nghỉ không lương = 14 ngày, tương ứng với tiền lương = 14 ngày x 728.923 = 10.204.926 đồng; Trong thời gian giải quyết vụ án, Công ty TNHH L2 đã thanh toán cho Bà Nguyễn Thị Tuyết H số tiền là: 4.325.911 đồng. Vậy số tiền mà Công ty TNHH L2 còn phải trả Bà Nguyễn Thị Tuyết H là: 5.879.015 đồng;

3. Buộc Công ty TNHH L2 phải trả tiền lương cho những ngày không được làm việc tính từ ngày 21/10/2022 đến ngày Công ty TNHH L2 nhận Bà Nguyễn Thị Tuyết H trở lại làm việc, tạm tính đến ngày 19/04/2023 là 5 tháng 25 ngày, số tiền cụ thể như sau: 728.923 đồng x 5 tháng 25 ngày x 26 ngày = 112.983.107 đồng;

4. Buộc Công ty TNHH L2 phải bồi thường cho Bà Nguyễn Thị Tuyết H 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động và Phụ lục hợp đồng lao động do chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật là 18.952.005 đồng x 2 = 37.904.010 đồng.

5. Do Công ty TNHH L2 không đồng ý nhận Bà Nguyễn Thị Tuyết H trở lại làm việc nên buộc Công ty TNHH L2 phải bồi thường cho Bà Nguyễn Thị Tuyết H 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động và Phụ lục hợp đồng lao động do chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật là 18.952.005 đồng x 2 = 37.904.010 đồng.

6. Do Công ty TNHH L2 đã chốt số BHXH và ngưng đóng BHXH cho Bà Nguyễn Thị Tuyết H đến hết 09/2022, nên buộc Công ty TNHH L2 phải trả tiền BHXH, BHYT, Bảo hiểm thất nghiệp cho Bà Nguyễn Thị Tuyết H trong thời gian từ ngày 01/10/2022 tạm tính đến ngày 19/04/2023 là 06 tháng 16 ngày = làm tròn 07 tháng, với mức lương đóng BHXH là: 11.673.645 đồng/ tháng, cụ thể số tiền là: 11.673.645 x 21,5% = 2.509.833 đồng/ tháng x 7 tháng = 17.568.836 đồng.

Tổng số tiền mà Công ty TNHH L2 phải trả cho Bà Nguyễn Thị Tuyết H là 212.238.977 đồng.

Bị đơn trình bày: Bị đơn đã thu hồi lại Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 và giữ nguyên quyết định cho thôi việc ngày 06/10/2022, thanh toán tiền lương còn thiếu, chi trả tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của tháng 10 cho bà Nguyễn Thị Tuyết H bằng tiền mặt, tổng cộng số tiền là 4.732.000 đồng.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 20/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:* 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H 1.1 Tuyên bố Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 của Công ty TNHH L2 về việc sa thải bà Nguyễn Thị Tuyết H được thu hồi.

1.2 Buộc Công ty TNHH L2 thanh toán cho bà Nguyễn Thị Tuyết H số tiền của 14 ngày làm việc còn thiếu là: 14 ngày x 728.923 = 10.204.926 đồng.

1.3 Buộc Công ty TNHH L2 phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) và trích từ tiền lương của bà Nguyễn Thị Tuyết H được bồi thường nêu trên đối với phần của bà Nguyễn Thị Tuyết H phải đóng để đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) cho bà Nguyễn Thị Tuyết H theo quy định của pháp luật đến ngày 05/11/2022 theo mức lương 18.952.005 đồng/tháng. Việc đóng bảo hiểm xã hội Công ty TNHH L2 phải thực hiện ngày sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH L2 bồi thường số tiền 202.034.051 đồng (Hai trăm lẻ hai triệu không trăm ba mươi bốn nghìn không trăm năm mươi mốt đồng).

Ngoài ra Bản án lao động sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 02/6/2023, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Tuyết H nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án lao động sơ thẩm số 20/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết H không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện. Bị đơn cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ sau: Phiếu lương tháng 9, tháng 10 năm 2022 của bà H, Giấy báo phát của bị đơn gửi thông báo và quyết định thu hồi quyết định kỷ luật sa thải ngày 28/4/2023 cho bà H, Quyết định về việc công nhận Ban chấp hành công đoàn cơ sở Công ty TNHH L2 ; Biên bản cuộc họp ngày 27/4/2023. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

* Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết H trình bày: Bị đơn đã ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải đối với nguyên đơn trái pháp luật. Tòa cấp sơ thẩm chưa giải quyết triệt để nội dung vụ án, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nhưng không giải quyết cho nguyên đơn được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Việc bị đơn đơn phương thu hồi Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 vào ngày 28/4/2023 trong khi Tòa án đang giải quyết tranh chấp, không thông báo cho người lao động biết là vi phạm điều cấm của Bộ luật lao động năm 2019 . Do đó, Nguyên đơn không đồng ý việc bị đơn thu hồi Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Bị đơn là Công ty TNHH L2 trình bày: Ngày 28/4/2023, bị đơn đã thu hồi lại Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 và phục hồi lại quyết định chấm dứt hợp đồng lao động số 0610/2022/HOV/QĐ ngày 06/10/2022. Bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tiền lương đến hết tháng 9/2022 và thanh toán lương tháng 10/2022 cho nguyên đơn là 4.325.911 đồng, nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn đến hết tháng 9/2022 theo mức lương cơ bản là 11.673.645 đồng. Bị đơn chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn tiền lương đến ngày chấm dứt hợp đồng lao động là ngày 05/11/2022 theo mức lương 18.952.005 đồng/tháng, nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn theo mức lương 11.673.645 đồng đến ngày 05/11/2022. Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở phúc thẩm như sau:

Về Đơn kháng cáo của các đương sự: Đơn kháng cáo nguyên đơn trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án lao động sơ thẩm số 20/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền lương còn thiếu, tính từ ngày 01/10/2022 đến ngày 05/11/2022 theo mức lương 18.952.005 đồng/tháng; Buộc bị đơn và nguyên đơn phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn tại cơ quan bảo hiểm có thẩm quyền, mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm là 11.673.645 đồng đồng/tháng, thời gian đóng từ ngày 01/10/2022 đến ngày 05/11/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết H trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về Tố tụng:

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn-bà Lê Thị Minh T đã được Tống đạt hợp lệ Quyết định tạm ngừng phiên tòa ngày 08/12/2023 nhưng vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/12/2023. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị Minh T theo quy định khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố Tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Tuyết H.

[3.1] Về yêu cầu hủy bỏ Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 của Công ty TNHH L2.

Tháng 10/2019, bà Nguyễn Thị Tuyết H và Công ty TNHH L2 (gọi tắt là Công ty L2) có ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm (từ tháng 10/2019 đến tháng 10/2020), chức danh là Nhân viên Xuất nhập khẩu.

Tháng 6/2020, Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với nhiều người lao động, trong đó có bà H. Tuy nhiên, từ tháng 6/2020 đến tháng 01/2021 bà H vẫn làm việc tại Công ty L2 cung cấp dịch vụ theo tờ khai nhưng không ký hợp đồng lao động.

Tháng 01/2021, bà H và Công ty L2 loại xác định thời hạn là 01 năm (từ tháng 01/ 2021 đến ngày 14/12/2021) với chức danh nhân viên xuất nhập khẩu.

Ngày 15/12/2021, bà H và Công ty ký Hợp đồng lao động số 202112/HĐLĐ/HOV- 282, loại hợp đồng lao động xác định thời hạn hai năm (từ ngày 15/12/2021 đến ngày 14/12/2023), chức danh chuyên môn là Nhân viên Xuất nhập khẩu, mức lương là 14.809.438 đồng/tháng.

Ngày 01/6/2022, bà H và Công ty ký kết Phụ lục hợp đồng số 01/ANNEX 01, đính kèm Hợp đồng lao động số 202112/HĐLĐ/HOV-282, theo đó thay đổi chức danh từ “Xuất nhập khẩu” thành “Quản lý Logistics” và tăng tiền lương của bà H lên số tiền 18.952.005 đồng/tháng, trong đó: L1 cơ bản: 11.673.645 đồng/tháng (Đây cũng là mức lương đóng BHXH bắt buộc cho bà H), phụ cấp ăn giữa ca: 730.000 đồng/tháng, phụ cấp điện thoại: 1.500.000 đồng/tháng, phụ cấp đồng phục: 400.000 đồng/tháng, phụ cấp nhà ở: 2.000.000 đồng/tháng, phụ cấp xăng xe: 1.000.000 đồng/tháng.

Như vậy, hai bên thoả thuận giao kết hợp đồng và Phụ lục hợp đồng lao động như nêu trên là đúng quy định pháp luật, được xác định là Hợp đồng xác định thời hạn 02 năm theo điểm b khoản 2 Điều 20 của Bộ luật Lao động năm 2019; hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 5, 14, 15, 18, 21, 22 và 23 của Bộ luật Lao động năm 2019 nên có hiệu lực thực hiện.

Ngày 06/10/2022, bà H và Công ty L2 chấm dứt hợp đồng lao động số 20212/HĐLĐ/HOV-282 và cùng ngày Công ty ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng số 0610/2022/HOV/QĐ đối với bà H kể từ ngày 05/11/2022; Công ty sẽ thanh toán tiền lương thực nhận theo Hợp đồng lao động của bà H dựa trên số ngày làm việc tính đến ngày 05/11/2022 chậm nhất vào ngày 07/11/2022.

Ngày 20/10/2022, Công ty ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA, theo đó áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với bà H, với lý do: bà H chưa hoàn thành việc bàn giao, từ ngày 14/10/2022 đến ngày 19/10/2022, bà H có đến công ty làm việc nhưng không làm việc nên được xem là vắng mặt tại nơi làm việc không có lý do chính đáng trong 05 ngày liên tục. Hủy thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động ký ngày 06/10/2022.

Ngày 28/4/2023, Công ty thu hồi Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022.

Hội đồng xét xử nhận thấy, Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 không còn tồn tại nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu hủy bỏ Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 của nguyên đơn. Tòa cấp sơ thẩm tuyên bố Quyết định kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 của Công ty TNHH L2 về việc sa thải bà Nguyễn Thị Tuyết H được thu hồi mà không tuyên chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là chưa chính xác. Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm.

[3.2] Về yêu cầu buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền lương còn thiếu, tính từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/10/2022 là 5.879.015 đồng;

Tiền lương làm căn cứ giải quyết tranh chấp theo hợp đồng lao động và Phụ lục hợp đồng của bà H là 18.952.005 đồng/tháng, số ngày làm việc trong tháng là 26 ngày, tiền lương của 01 ngày làm việc là 18.952.005: 26 = 728.923 đồng.

Bị đơn đã thanh toán tiền lương và chốt số bảo hiểm cho nguyên đơn đến ngày 30/9/2022.

Theo sự xác nhận của nguyên đơn và bị đơn, từ ngày 01/10/2022 nguyên đơn nghỉ 4.5 ngày nghỉ không hưởng lương và 1,5 ngày phép năm được hưởng lương = 3 ngày phép không lương, theo đó số ngày làm việc từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/10/2022 là 17 ngày - 03 ngày nghỉ không lương = 14 ngày, tương ứng với tiền lương = 14 ngày x 728.923 đồng = 10.204.926 đồng; Trong thời gian giải quyết vụ án tại Tòa cấp sơ thẩm, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tiền lương tháng 10/2022 là: 4.325.911 đồng. Do đó, bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn tiền lương đến ngày 20/10/2022 là: 10.204.926 đồng - 4.325.911 đồng = 5.879.015 đồng. Tòa sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền của 14 ngày làm việc còn thiếu là: 14 ngày x 728.923 = 10.204.926 đồng là không chính xác. Mặt khác, Tòa cấp sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán tiền lương cho nguyên đơn nhưng không tuyên buộc bị đơn thanh toán tiền lãi cho nguyên đơn trong trường hợp bị đơn chậm thanh toán là không phù hợp quy định pháp luật. Do đó, Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm.

[3.3] Về yêu cầu buộc bị đơn phải trả tiền lương cho những ngày không được làm việc tính từ ngày 21/10/2022 đến ngày bị đơn nhận nguyên đơn trở lại làm việc, tạm tính đến ngày 19/04/2023 là 5 tháng 25 ngày: 728.923 đồng x 5 tháng 25 ngày x 26 ngày = 112.983.107 đồng; Bồi thường 02 tháng tiền lương do chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật: 37.904.010 đồng; Bồi thường 02 tháng tiền lương do bị đơn không đồng ý nhận nguyên đơn trở lại làm việc: 37.904.010 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 20/10/2022, Công ty ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA, theo đó áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với bà H; Hủy thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động ký ngày 06/10/2022.

Ngày 20/10/2022, bà H nhận được quyết định xử lý kỷ luật lao động, Bà H không đồng ý với quyết định xử lý kỷ luật lao động cũng như không đồng ý việc Công ty L2 quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ký ngày 06/10/2022.

Như vậy, Việc Công ty L2 Quyết định về việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động ngày 06/10/2022 không được sự đồng ý của bà H là trái quy định pháp luật lao động. Tại thời điểm bị đơn ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải với bà H thì Quyết định về việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động số 0610/2022/HOV/QĐ ngày 06/10/2022 vẫn còn hiệu lực pháp luật. Do đó, Quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 đối với bà H không có giá trị pháp lý.

Theo Quyết định chấm dứt hợp đồng số 0610/2022/HOV/QĐ ngày 06/10/2022 thì thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà H là ngày 05/11/2022. Do đó, Công ty TNHH L2 phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lương cho bà Nguyễn Thị Tuyết H đến ngày 05/11/2022. Cụ thể là 15 ngày (tương đương 0,5 tháng lương) là 18.952.005 đồng x 0,5 = 9.476.002 đồng. Tòa cấp sơ thẩm không buộc bị đơn thanh toán tiền lương cho nguyên đơn những ngày không được làm việc từ ngày 21/10/2022 đến ngày 04/11/2022 là không phù hợp quy định pháp luật lao động. Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm.

[3.4] Về yêu cầu buộc bị đơn phải trả tiền BHXH, BHYT, Bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn trong thời gian từ ngày 01/10/2022 tạm tính đến ngày 19/04/2023 là 06 tháng 16 ngày = làm tròn 07 tháng, với mức lương đóng BHXH là: 11.673.645 đồng/ tháng, cụ thể số tiền là: 11.673.645 x 21,5% = 2.509.833 đồng/ tháng x 7 tháng = 17.568.836 đồng.

Như đã phân tích ở trên, Tại thời điểm bị đơn ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải với bà H thì Quyết định về việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động số 0610/2022/HOV/QĐ ngày 06/10/2022 vẫn còn hiệu lực pháp luật. Theo đó thì thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà H là ngày 05/11/2022.

Điều 19, Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, được sửa đổi bổ sung năm 2015, năm 2018 quy định đóng bảo hiểm xã hội là nghĩa vụ bắt buộc của người sử dụng lao động và người lao động. Do đó, Bị đơn và nguyên đơn phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn tại cơ quan bảo hiểm có thẩm quyền, mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm là 11.673.645 đồng/tháng, thời gian đóng từ ngày 01/10/2022 đến ngày 05/11/2022. Tòa cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc và trích từ tiền lương của nguyên đơn được bồi thường nêu trên đối với phần của nguyên đơn phải đóng để đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật đến ngày 05/11/2022 theo mức lương 18.952.005 đồng/tháng, không ghi thời điểm bắt đầu nộp bảo hiểm xã hội bắt buộc là không đúng quy định pháp luật lao động. Do đó, Tòa cấp phúc thẩm sửa phần này của bản án sơ thẩm.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, Sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 20/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Về án phí:

[4.1] Về án phí lao động sơ thẩm:

- Bị đơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 5.879.015 đồng + 9.476,002 đồng = 15.355.017 đồng x 3% = 460.650 (Bốn trăm sáu mươi nghìn sáu trăm năm mươi) đồng.

- Nguyên đơn được miễn án phí lao động sơ thẩm.

[4.2] Về án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí lao động phúc thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, khoản 2 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 5, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 18, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Khoản 3 Điều 34, Điều 48, Điều 90 của Bộ luật lao động năm 2019;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, được sửa đổi bổ sung năm 2015, năm 2018 Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Tuyết H. Sửa một phần Bản án lao động sơ thẩm số 20/2023/LĐ-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H 1.1. Hợp đồng lao động số 202112/HĐLĐ/HOV- 282 ngày 15/12/2021 giữa Công ty TNHH L2 và bà Nguyễn Thị Tuyết H chấm dứt kể từ ngày 05/11/2022. Buộc Công ty TNHH L2 thanh toán cho bà Nguyễn Thị Tuyết H tiền lương từ ngày 01/10/2022 đến hết ngày 04/11/2022 là 16.812.860 (Mười sáu triệu tám trăm mười hai nghìn tám trăm sáu mươi) đồng cụ thể: Tiền lương từ ngày 01/10/2022 đến ngày 20/10/2022 là 5.879.015 (Năm triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn không trăm mười lăm) đồng; Tiền lương từ ngày 21/10/2022 đến hết ngày 04/11/2022 là 9.476.002 (Chín triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn không trăm lẻ hai) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.2. Buộc Công ty TNHH L2 và bà Nguyễn Thị Tuyết H phải đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) cho bà Nguyễn Thị Tuyết H tại Cơ quan Bảo hiểm có thẩm quyền, mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là 11.673.645 đồng/tháng, thời gian đóng từ ngày 01/10/2022 đến ngày 05/11/2022.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết H đối với yêu cầu: hủy bỏ Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số QĐKL/2010/2022/HOV/HOA ngày 20/10/2022 của Công ty TNHH L2; trả tiền lương cho những ngày không được làm việc tính từ ngày 05/11/2022 đến ngày bị đơn nhận nguyên đơn trở lại làm việc, tạm tính đến ngày 19/04/2023 là 5 tháng 25 ngày: 728.923 đồng x 5 tháng 25 ngày x 26 ngày = 112.983.107 đồng; Bồi thường 02 tháng tiền lương do chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật là 37.904.010 đồng; Bồi thường 02 tháng tiền lương do bị đơn không đồng ý nhận nguyên đơn trở lại làm việc là 37.904.010 đồng; trả tiền BHXH, BHYT, Bảo hiểm thất nghiệp cho nguyên đơn trong thời gian từ ngày 01/10/2022 tạm tính đến ngày 19/04/2023 là 06 tháng 16 ngày = làm tròn 07 tháng là 17.568.836 đồng.

3. Về án phí 3.1. Án phí lao động sơ thẩm:

- Công ty TNHH L2 phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 504.385(Năm trăm lẻ bốn nghìn ba trăm tám mươi lăm) đồng.

- Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết H được miễn nộp tiền án phí lao động sơ thẩm.

3.2 Án phí lao động phúc thẩm Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tuyết H được miễn án phí lao động phúc thẩm.

4. Các đương sự thi hành án tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

150
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải số 1264/2023/LĐ-PT

Số hiệu:1264/2023/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành: 27/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;