TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 129/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2024 VỀ TRANH CHẤP VỀ XÁC ĐỊNH CHA CHO CON
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 337/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1993; trú tại thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Đình T, sinh năm 1993; trú tại thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Hữu N, sinh năm 1987; trú tại khu A, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện để ngày 19/8/2024 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị B trình bày: Năm 2016, chị kết hôn với anh Trần Hữu N và có 01 con chung là Trần Thùy T1, sinh ngày 17/01/2018. Đến cuối năm 2017 thì chị và anh Trần Hữu N nảy sinh mâu thuẫn, không thể hòa giải được, đã ly thân từ cuối năm 2017 và ly hôn theo Quyết định số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngày 27/11/2023, chị và anh Lê Đình T đã đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đến ngày 26/7/2024, chị sinh con tại Bệnh viện Đ, dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 nhưng chưa làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con do cháu T2 được sinh ra trong thời gian 300 ngày kể từ ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Trần Hữu N. Chị cùng anh Lê Đình T và cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 đã làm thủ tục xét nghiệm ADN, kết quả xét nghiệm xác định anh Lê Đình T và cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 có mối quan hệ cha - con. Nay chị đề nghị Tòa án xác định anh Lê Đình T là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 26/7/2024.
* Tại Bản tự khai, bị đơn là anh Lê Đình T trình bày: Năm 2023, anh quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị B. Đến ngày 27/11/2023, anh và chị Nguyễn Thị B đã đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 26/7/2024, chị Nguyễn Thị B sinh con tại Bệnh viện Đ, dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 nhưng chưa làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con. Do cháu Lê Nguyễn Thanh T2 được sinh ra trong thời gian 300 ngày kể từ ngày chị B và anh N ly hôn nên chị B chưa đăng ký khai sinh được cho cháu. Theo kết quả xét nghiệm xác định anh và cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 có mối quan hệ cha - con gái. Nay chị B đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 26/7/2024 thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Hữu N trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị B kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống, anh và chị B chỉ có 01 con chung là Trần Thủy T1, sinh ngày 17/01/2018. Anh và chị B chung sống đến cuối năm 2017 thì nảy sinh mâu thuẫn, đã giải quyết ly hôn theo Quyết định số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Việc chị Nguyễn Thị B sinh con dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 vào ngày 26/7/2024 thì anh hoàn toàn không biết. Mặc dù cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 được sinh ra trong thời gian 300 ngày kể từ thời điểm anh và chị Nguyễn Thị B chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng trên thực tế anh và chị B đã sống ly thân từ năm 2017, không gặp gỡ, không có quan hệ vợ chồng gì, không sống chung đến khi giải quyết ly hôn tại Tòa án. Anh xác định cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 26/7/2024 không phải con chung của anh và chị Nguyễn Thị B. Còn ai là bố đẻ của cháu thì anh không biết, không liên quan và không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu của chị B đề nghị thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại Công văn số 012409/2024/CV-AND của Công ty Trách nhiệm hữu hạn D xác định: Công ty có thực hiện việc giám định xác định quan hệ huyết thống giữa anh Lê Đình T (số căn cước công dân: 024093016526, cấp ngày 27/6/2021 tại Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) với cháu Lê Nguyễn Thanh T2 (giấy chứng sinh số 23049483 quyển số 001 cấp ngày 26/7/2024 tại Bệnh viện Đ). Người yêu cầu giám định là anh Lê Đình T. Mẫu do nhân viên công ty TNHH D thu mẫu ngày 06/8/2024.
Công ty có ban hành Kết quả xét nghiệm ADN số KQ 20836024 ngày 06/8/2024 đối với anh Lê Đình T (cha giả định) với cháu Lê Nguyễn Thanh T2 (con giả định). Kết quả xét nghiệm như sau: “Người có mẫu ghi tên LÊ ĐÌNH T3 có quan hệ huyết thống cha-con với người có mẫu ghi tên LÊ NGUYỄN THANH T4 với độ tin cậy 99,999999%.” * Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B, bị đơn anh Lê Đình T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Hữu N vắng mặt. Hội đồng xét xử đã tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73- Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101; khoản 2, Điều 102- Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B: Xác định anh Lê Đình T, sinh năm 1993; trú tại thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 26/7/2024. Ngoài ra còn phát biểu về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị B yêu cầu Tòa án xác định anh Lê Đình T là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 26/7/2024; anh Lê Đình T có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 28; Điều 35; Điều 39- Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2, Điều 101, Điều 102- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về xác định cha cho con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B, bị đơn anh Lê Đình T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Hữu N vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; khoản 1, Điều 228; Điều 238- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị B, anh Lê Đình T, anh Trần Hữu N.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Chị Nguyễn Thị B và anh Trần Hữu N kết hôn vào năm 2016. Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị B và anh Trần Hữu N này sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2017, đã được giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngày 26/7/2024, chị Nguyễn Thị B sinh cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2. Tại khoản 1, Điều 88- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Như vậy, thời điểm cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 sinh ra (ngày 26/7/2024) là trong thời hạn 300 ngày, kể từ thời điểm chị Nguyễn Thị B và anh Trần Hữu N chấm dứt hôn nhân (ngày 10/10/2023).
[3.2] Tại khoản 2, Điều 88- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”. Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị B, anh Trần Hữu N và anh Lê Đình T cùng xác định mặc dù cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 được sinh ra trong thời hạn 300 ngày, kể từ thời điểm chị Nguyễn Thị B và anh Trần Hữu N chấm dứt hôn nhân nhưng thực tế thì chị B đã ly thân anh N từ cuối năm 2017. Chị B và anh N không có quan hệ tình cảm gì, không có việc quan hệ vợ chồng, không liên lạc hỏi thăm gì nhau. Đây là tình tiết, sự kiện được các đương sự thống nhất nên không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92- Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, có đủ căn cứ để xác định cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2 không phải con chung của chị Nguyễn Thị B và anh Trần Hữu N.
[3.3] Tại Kết quả giám định ADN số KQ 20836024 ngày 06/8/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn D đã kết luận: Người có mẫu ghi tên Lê Đình T và người có mẫu ghi tên Lê Nguyễn Thanh T2 có quan hệ huyết thống cha-con gái. Việc xét nghiệm thực hiện đảm bảo tính khách quan, trung thực, khoa học, đúng quy định pháp luật.
[3.4] Từ những đánh giá trên, căn cứ vào Kết quả giám định, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B, cần xác định anh Lê Đình T là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 26/7/2024 (theo Giấy chứng sinh ngày 26/7/2024, số 23049483, quyển số 001 của Bệnh viện Đ) là phù hợp quy định tại khoản 2, Điều 102- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; khoản 1 Điều 11- Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì các đương sự trong vụ án không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên cần chấp nhận.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273- Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 4, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 101, khoản 2, Điều 102- Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b, khoản 1, Điều 12- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; khoản 1 Điều 11- Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B: Xác định anh Lê Đình T, sinh năm 1993; trú tại thôn X, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang (số căn cước công dân: 024093016526, cấp ngày 27/6/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội) là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Lê Nguyễn Thanh T2, sinh ngày 26/7/2024 (theo Giấy chứng sinh ngày 26/7/2024, số 23049483, quyển số 001 của Bệnh viện Đ).
2. Về án phí: Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai
Bản án về tranh chấp xác định cha cho con số 129/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 129/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lục Ngạn - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về