TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
BẢN ÁN 113/2024/DS-ST NGÀY 22/08/2024 VỀ TRANH CHẤP TIỀN HỤI
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp tiền hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh N, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1968; địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/02/2024, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn (ông N) trình bày:
Do có quan hệ quen biết, nên bà C mở hụi thì ông N có tham gia hụi của bà C. Ông N tham gia nhiều dây hụi của bà C. Sau đó bà C tuyên bố vỡ hụi và còn nợ lại ông N số tiền là 53.000.000 đồng. Bà C cứ hẹn lần hẹn lượt không trả nên ông N có khởi kiện bà C đến Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng. Tại đây ông N và bà C thỏa thuận, sau đó bà C có làm giấy nhận nợ và cam kết trả ngày 29/8/2023. Theo giấy nhận nợ và cam kết trả ngày 29/8/2023 thì bà C thừa nhận có nợ ông N số tiền là 53.000.000 đồng và cam kết trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng, trả vào ngày 15 hàng tháng, thời hạn trả bắt đầu từ tháng 10/2023 cho đến khi trả hết số nợ trên.
Tuy nhiên từ đó đến nay bà C vẫn không thanh toán cho ông N được khoản tiền nào. Ông N nhiều lần yêu cầu bà C thanh toán tiền mà không được. Nên ông N khởi kiện.
Nay ông N yêu cầu bà C thanh toán số tiền 53.000.000 đồng. Ngoài ra ông N không có ý kiến gì khác.
* Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho bà Trần Thị Kim C biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng bà C vẫn vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp tiền hụi”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, sau khi nghe lời trình bày của các đương sự Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Minh N khởi kiện bà Trần Thị Kim C yêu cầu thanh toán số tiền hụi là 53.000.000 đồng. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp tiền hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà C có nơi cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà C được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông N, bà C.
[2] Nội dung vụ án: Ông N có tham gia nhiều dây hụi do bà C làm chủ hụi. Sau đó bà C tuyên bố vỡ hụi và còn nợ lại ông N số tiền là 53.000.000 đồng. Ngày 29/8/2023 bà C làm giấy thừa nhận có nợ ông N số tiền là 53.000.000 đồng và cam kết trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng, trả vào ngày 15 hàng tháng, thời hạn trả bắt đầu từ tháng 10/2023 cho đến khi trả hết số nợ trên. Tuy nhiên bà C không thực hiện theo đúng cam kết. Nên ông N khởi kiện yêu cầu bà C thanh toán số tiền là 53.000.000 đồng.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/8/2023 do ông N cung cấp là bản chính. Theo nội dung giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/8/2023 thì bà C thừa nhận ông N có tham gia hụi do bà C làm chủ hụi và bà C còn nợ ông N số tiền hụi là 53.000.000 đồng. Giấy nhận nợ và cam kết trả nợ ngày 29/8/2023 có chữ ký và chữ viết của bà C. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập bà C nhiều lần để bà C tham gia giải quyết tại Tòa án, nhưng bà C vẫn không có mặt và không cung cấp bất kỳ giấy tờ gì để phản bác lại yêu cầu khởi kiện của ông N. Điều này cho thấy bà C cố tình né tránh không thực hiện nghĩa vụ đối với ông N. Do đó, ông N yêu cầu bà C thanh toán số tiền 53.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 166, 280, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp tiền hụi” của ông Nguyễn Minh N đối với bà Trần Thị Kim C.
Buộc bà Trần Thị Kim C có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Minh N số tiền 53.000.000 đồng (năm mươi ba triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà C không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bà C còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị Kim C phải chịu 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- Hoàn lại cho ông Nguyễn Minh N 1.325.000 đồng (một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0002727 ngày 25/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án về tranh chấp tiền hụi số 113/2024/DS-ST
Số hiệu: | 113/2024/DS-ST |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Dầu Tiếng - Bình Dương |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Ngày ban hành: | 22/08/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về