TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 691/2024/DS-PT NGÀY 29/08/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2024/DS-PT ngày 01/4/2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.” Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 1308/2022/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4773/2024/QĐPT ngày 31 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1941 (vắng mặt) Địa chỉ cư trú: 1 N, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Thanh N, sinh năm 1965 (có mặt) Địa chỉ cư trú: 227 Ấp A, xã B, thành phố T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1968 Địa chỉ cư trú: A N, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt) Đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Hữu L, sinh năm 1998 (vắng mặt) Địa chỉ: I N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Võ Thị L1, sinh năm 1957 (có mặt) Địa chỉ: 15-17 N, Phường 9, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh 2. Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1961 (có mặt) Địa chỉ: I B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh 3. Ông Võ Thanh N, sinh năm 1965 (có mặt) Địa chỉ: 227 Ấp 1, xã Bình Tâm, thành phố Tân An, tỉnh Long An 4. Bà Võ Thị Bé T1, sinh năm 1966 (vắng mặt) Địa chỉ: Ô, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre 5. Bà Võ Thị Kim D, sinh năm 1970 (vắng mặt) Địa chỉ: Hẻm Võ Tánh, Khu phố 1, thị trấn MH, tỉnh Long An 6. Bà Võ Thị Kim L2, sinh năm 1972 (vắng mặt) Địa chỉ: A B, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh 7. Ông Võ Thanh V (chết năm 2021)
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông V:
- Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1941 (có mặt) - Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1980 (vắng mặt) - Võ Thanh H2, sinh năm 2001 (vắng mặt) - Võ Huy H3, sinh năm 2005 (có mặt) - Võ Hoàng K, sinh năm 2010 (có mặt) 8. Bà Võ Thị Yến L3, sinh năm 1980 (có mặt) Cùng địa chỉ: 1 N, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của các ông/bà L1, L3, T1, D, L2, H1, H2: Ông Võ Thanh N, sinh năm 1965 (có mặt) Người giám hộ hợp pháp của trẻ H3, trẻ K: Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1980 (vắng mặt) Địa chỉ: 1 N, Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Ủy ban nhân dân Quận D1, Thành phố Hồ Chí Minh Địa chỉ: 05 Đoàn Như Hải, Phường 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Phương L4 - Phó Trưởng Phòng T5; Bà Nguyễn Ngọc Bảo T2 - Chuyên viên Phòng T5 (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Thành T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn trình bày:
Bà Huỳnh Thị Kim H là đại diện đứng tên chủ sở hữu nhà đất tại số A - 17 Nguyễn Hữu H4 (số cũ: 129/17A - A B) Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là nhà 15- 17 Nguyễn Hữu H4) theo Giấy chứng nhận số BP- 450908 (số vào sổ cấp GCN: CH01971) do Ủy ban nhân dân Quận D1 cấp ngày 17/7/2013.
Nhà đất này do bà H và chồng là ông Võ Thanh Q (chết 2004) mua lại theo Hợp đồng mua bán do Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 25/4/2002, trước bạ 26/4/2002, trước đó ông Nguyễn Văn M, bà Huỳnh Thị Thanh T3 đã chuyển nhượng từ Bùi Ngọc Q1, Trần Thị L5 theo Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa số 644/GP ngày 11/5/1991 của Ủy ban nhân dân Quận D1 với diện tích đất là 4,3m x 8m = 34,4m2 và Bản vẽ cấp phép mua bán nhà năm 1991.
Theo nguyên đơn, nhà đất trên trước đây có diện tích ngang 4,3m x dài 8m = 34,4m2 theo Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa số 644/GP ngày 11/5/1991 của Ủy ban nhân dân Quận D1 với diện tích đất là 4,3m x 8m = 34,4m2 và Bản vẽ cấp phép mua bán nhà năm 1991.
Đến tháng 5/2013, gia đình nguyên đơn tiến hành tháo dỡ căn nhà cũ để xây dựng nhà mới trên nền đất cũ, đồng thời xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì phát sinh tranh chấp với ông Nguyễn Thành T về bức tường nhà bị đơn mượn của nhà nguyên đơn trước đây.
Do không muốn kéo dài thời gian cấp Giấy chứng nhận nên nguyên đơn đã xây nhà mới và chừa lại bức tường mượn nằm bên trái (từ ngoài nhìn vào) ngang 0,1m và dài 3,88m.
Ủy ban nhân dân Quận D1 đã cấp Giấy chứng nhận số BP 450908 công nhận chiều ngang phía trước nhà của các tầng 2 và 3 là 4,3m trong khi chỉ công nhận phần chiều ngang tầng 1 (trệt) phía trước nhà là 4,2m (nếu bao gồm cả phần tường tranh chấp mới đủ 4,3m).
Trong khi đó, ông Nguyễn Thành T lại kê khai bức tường trên thuộc quyền sở hữu của ông T và được Ủy ban nhân dân Quận D1 cấp Giấy chứng nhận số CH00006 ngày 14/01/2010 công nhận đất nhà số A B (nay là số A N), Phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là nhà 19 Nguyễn Hữu H4) có chiều ngang mặt tiền đường là 3,41m (bao gồm 0,1m tường mượn của nhà nguyên đơn).
Nguyên đơn đã gửi đơn tranh chấp và Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D hòa giải vào ngày 15/12/2015, qua xác minh của cán bộ Phường thì họ đều ghi nhận chiều ngang mặt tiền đường của nhà ông T chi có 3,3m và chiều ngang của nhà bà H là 4,3m nhưng không hòa giải thành được.
Ngày 26/3/2018, bà Huỳnh Thị Kim H có Đơn khởi kiện đến Tòa án, yêu cầu:
1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH01971 ngày 17/7/2013 cấp cho bà Huỳnh Thị Kim H và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số số CH00006 ngày 14/01/2010 cấp cho ông Nguyễn Thành T.
2. Công nhận quyền sử dụng và sở hữu hợp pháp phần tường và phần ranh đất giữa hai nhà với diện tích chiều ngang 0,1m và chiều dài 3,88m hướng từ đường N vào bên trong.
Bị đơn Nguyễn Thành T do người đại diện hợp pháp ông Huỳnh Hữu L trình bày:
Nhà đất số 19 Nguyễn Hữu H4 do ông Nguyễn Thành T được hưởng thừa kế từ cha mẹ là ông Nguyễn Văn T4 và bà Phạm Thị Bạch B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp 23/10/2009 và sau đó Ủy ban nhân dân Quận D1 đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BA059904 (số vào sổ cấp GCN: CH00006) ngày 14/01/2010 cho ông Nguyễn Thành T.
Căn cứ theo Giấy chứng nhận năm 2009 cấp cho bà Phạm Thị Bạch B thì nhà đất có diện tích sàn là 43,5m2 và diện tích xây dựng là 17,2m2. Sau khi ông T nhận tặng cho và được cấp Giấy chứng nhận năm 2010, nhà đất của ông T không thay đổi diện tích tích được công nhận là diện tích sàn là 43,5m2 và diện tích xây dựng là 17,2m2.
Đồng thời, theo Công văn số 432/PTNMT-PC ngày 10/5/2016 của Phòng T5 gửi Tòa án nhân dân Quận 4 cũng cho rằng diện tích khuôn viên phần đất nhà ông T là 17,2m2được căn cứ theo Bản đồ địa chính lập năm 2001-2002 Quyết định số 556/QĐ-UBND-PQLĐT ngày 07/8/2007).
Như vậy, phần tường tranh chấp hoàn toàn thuộc sở hữu riêng nhà ông T nên bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do ông V1 thanh Nhàn đại diện trình bày: Có cùng ý kiến với nguyên đơn.
Ý kiến của Ủy ban nhân dân Quận D1: Đối với nhà đất số A N:
Theo Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa số 644/GP ngày 11/5/1991 của Ủy ban nhân dân Quận D1 với diện tích đất là 4,3m x 8m = 34,4m2.
Theo Bản đồ địa chính Phường I lập năm 2001-2002, nhà đất số A N có diện tích khuôn viên đất 40,4m2, chiều ngang phía trước nhà (hướng đường N) là 4,2m.
Theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 22/4/2013 (Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Quận D kiểm tra nội nghiệp ngày 23/4/2013) thể hiện: diện tích đất thực tế là 41,2m2; trong đó, diện tích đất 40,4m2có trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất; diện tích đất 1,1m2 không có trong hồ sơ kỹ thuật thửa đất.
Theo xác nhận ngày 30/5/2013 của Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D: diện tích chênh lệch 41,2m2- 34,4m2= 6,8m2 là phần đất phía trước hiên nhà và phía sau nhà chưa được công nhận; nhà, đất không có tranh chấp.
Ngày 01/7/2013, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất - Phòng T5 có Công văn số 880/VPĐKQSDĐ-GCN gửi Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D, có nội dung: Trong phần đất phía trước, có phần diện tích đất là 1,1m2nằm ngoài Bản đồ địa chính đã lập năm 2001 - 2002; phần đất này tiếp giáp với đất đã được giải tỏa để thực hiện Công trình Cải tạo hệ thống thoát nước Rạch cầu Chông Quận 4; do đó, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Quận D đề nghị Ủy ban nhân dân Phường 9 xác minh đối với phần diện tích đất 1,1m2 nêu trên.
Trong phần diện tích đất 1,1m2 nêu trên có bao gồm cả phần diện tích đất khoảng 0,2m2 tiếp giáp nhà số A N, Phường I, Quận D; phần đất 0,2m2 này thuộc khuôn viên đất nhà 19 N và đã được Ủy ban nhân dân Quận D1 cấp Giấy chứng nhận cho nhà đất số A N, Phường I, Quận D.
Ngày 03/7/2013, Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D có Công văn số 145/UBND gửi Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Quận D, có nội dung: phần diện tích đất 1,1m2 không phải là đất lấn chiếm đất giải tỏa, mà do chủ nhà tự tạo lập trước 15/10/1993.
Ngày 03/7/2013, bà Huỳnh Thị Kim H, có ý kiến như sau: sau khi Ủy ban nhân dân Phường I xác minh, phần diện tích ngoài bản đồ địa chính tôi đồng ý không công nhận vì do có nhu cầu xin phép xây dựng, đề nghị cấp Giấy chứng nhận theo đúng ngày hen trong biên nhận.
Dựa trên đề xuất tại Tờ trình số 1912/TTr-PTNMT-VPDKQSDĐ ngày 11/7/2013 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất - Phòng T5, Ủy ban nhân dân Quận D1 đã cấp Giấy chứng nhận số CH 01971 ngày 17/7/2013 cho bà Huỳnh Thị Kim H (đồng sở hữu và đại diện cho các thừa kế của ông Võ Thanh Q), công nhận diện tích đất là 40,1m2; không công nhận diện tích đất là 0,3m2 do chủ nhà không còn sử dụng và không công nhận diện tích đất 1,1m2 ngoài bản đồ địa chính.
Đối với nhà đất số A N có quá trình cấp Giấy chứng nhận như sau:
Năm 2009, bà Phạm Thị Bạch B (đại diện) đứng đơn nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận cho nhà đất tại địa chỉ số A N; theo đó, căn nhà có diện tích xây dựng là 17,2m2 (diện tích sàn là 47,9m2).
Theo Bản đồ địa chính Phường 9 được lập năm 2001 - 2002, nhà đất số A N có diện tích khuôn viên đất là 17,2m2; chiều ngang phía trước (theo hướng từ đường N nhìn vào nhà) là 3,41m; chiều ngang phía sau là 3,19m.
Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do Công ty G ngày 19/12/2008 (Phòng T5 kiểm tra nội nghiệp ngày 02/01/2009) thể hiện: nhà đất số A N nói trên có diện tích khuôn viên đất là 17,2m2; chiều ngang phía trước (theo hướng từ đường N nhìn vào nhà) là 3,41m; chiều ngang phía sau là 3,19m; phần tường bên trái (theo hướng từ ngoài đường N nhìn vào, tiếp giáp với nhà số A N, Phường I, Quận D) là tường nhờ.
Căn cứ trên hồ sơ thể hiện và xác nhận ngày 16/01/2009 của Ủy ban nhân dân Phường I có nội dung: nhà đất hiện không có tranh chấp; nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất trước 15/10/1993; thời điểm xây dựng nhà trước 01/7/2004, căn cứ Tờ trình số 1205/TTr-TNMT ngày 14/10/2009 của Phòng T5 có đề xuất cấp Giấy chứng nhận tại địa chỉ A N, Phường I, Quận D, Ngày 23/10/2009, Ủy ban nhân dân Quận D1 đã ký cấp Giấy chứng nhận số 001513/2009/UBND.GCN công nhận diện tích khuôn viên đất là 17,2m2; chiều ngang phía trước (theo hướng từ đường N nhìn vào) là 3,41m; chiều ngang phía sau là 3,19m; tường bên trái nhà 19 Nguyễn Hữu H4 (theo hướng từ ngoài đường N nhìn vào) là tường nhờ.
Sau đó, dựa trên Văn bản thỏa thuận phân chia di sản lập ngày 15/12/2009 do Văn phòng C1 chứng nhận, những người được thừa kế di sản của ông Nguyễn Văn T4 đã tặng cho phần thừa kế của mình được hưởng cho ông Nguyễn Thành T và Hợp đồng tặng cho một phần nhà ở và quyền sử dụng đất ở do Văn phòng C1 chứng nhận số 010404 ngày 15 và 17/12/2009; trước bạ ngày 17/12/2009, bà Phạm Thị Bạch B đã tặng cho 1/2 phần quyền sử dụng, sở hữu của mình đối với nhà, đất trên cho ông Nguyễn Thành T, nên ngày 14/01/2010, Ủy ban nhân dân Quận D1 đã ký cấp Giấy chứng nhận số CH00006 cho ông Nguyễn Thành T, tại địa chỉ A N, với diện tích khuôn viên đất là 17,2m²; phần sơ đồ nhà, đất tại T 3 của Giấy chứng nhận thể hiện như sơ đồ tại Giấy chứng nhận số 001513/2009/UBND.GCN ngày 23/10/2009; Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do Công ty G ngày 19/12/2008 (Phòng T5 kiểm tra nội nghiệp ngày 02/01/2009).
Như vậy, việc Ủy ban nhân dân Quận D1 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00006 ngày 14/01/2010 cho ông Nguyễn Thành T tại địa chỉ A N và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01971 cấp ngày 17/7/2013 cho bà Huỳnh Thị Kim H (đồng sở hữu và đại diện cho các thừa kế của ông Võ Thanh Q) tại địa chỉ 1 N, là đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo pháp luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Do đó, việc bà Huỳnh Thị Kim H yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận nêu trên là không có cơ sở giải quyết, Ủy ban nhân dân Quận D1 giữ nguyên giá trị pháp lý của 02 giấy chứng nhận này; đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố tuyên bác yêu cầu của bà Huỳnh Thị Kim H.
Tại Bản án dân sự số 1308/2022/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ Khoản 2 Điều 26, Điều 34, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Điều 228, Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 265 Bộ luật Dân sự năm 2005; Căn cứ Khoản 2 Điều 164, Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H: Công nhận phần tường ranh diện tích đất 0,5m² có vị trí số (9) tại Bản đồ hiện trạng, vị trí, áp ranh ngày 17/8/2020 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H.
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH01971 ngày 17/7/2013 để điều chỉnh tăng diện tích được công nhận quyền sử dụng đất diện tích 0,5m2 có vị trí số (9) theo Bản đồ hiện trạng, vị trí, áp ranh ngày 17/8/2020 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H về việc tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00006 ngày 14/01/2010 do Ủy ban nhân dân Quận D1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Thành T.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/8/2022 bị đơn ông Nguyễn Thành T có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đánh giá đầy đủ các chứng cứ có tại hồ sơ, nhận định chưa phù hợp với quy định của pháp luật vì vậy đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Thành T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác đề nghị tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông T và giữ nguyên Bản án sơ thẩm (Có bài phát biểu kèm theo)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thành T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:
[2.1] Căn cứ vào Bản đồ địa chính Phường 9 được lập năm 2001 - 2002, nhà đất số A N có diện tích khuôn viên đất là 17,2m2; chiều ngang phía trước (theo hướng từ đường N nhìn vào nhà) là 3,41m; chiều ngang phía sau là 3,19m. Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do Công ty G ngày 19/12/2008 (Phòng T5 kiểm tra nội nghiệp ngày 02/01/2009) thể hiện: nhà đất số A N nói trên có diện tích khuôn viên đất là 17,2m2; chiều ngang phía trước (theo hướng từ đường N nhìn vào nhà) là 3,41m; chiều ngang phía sau là 3,19m; phần tường bên trái (theo hướng từ ngoài đường N nhìn vào, tiếp giáp với nhà số A N, Phường I, Quận D) là tường nhờ. Đồng thời, theo Bản vẽ sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Giấy chứng nhận số vào sổ CH00006 ngày 14/01/2010 cấp cho ông Nguyễn Thành T, thì phần chiều ngang phía trước nhà thuộc tầng 1 (trệt) là 3,41m bao gồm tường nhờ nhà số A đường N (nay là 15-17 Nguyễn Hữu H4).
[2.2] Căn cứ Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa sổ 644/GP ngày 11/5/1991 của Ủy ban nhân dân Quận D1 với diện tích đất là 4,3m x 8m = 34,4m2, vậy nhà đất số A N nguồn gốc ban đầu có chiều ngang là 4,3m từ trước ra sau.
Theo Bản vẽ cấp phép mua bán nhà (năm 1991) của phía nguyên đơn cũng thể hiện: Mặt bằng gác gỗ ngang 4,3m từ trước ra sau, (chiều dài gồm 1,2m + 6,0m + 1,9m + 0,1m = 9,2m); Mặt bằng trệt có chiều ngang phía sau là 4,2m + 0,1m (do có một bên là tường riêng, một bên là vách tạp), chiều ngang phía trước là 4,1m + tường riêng hai bên 0,1m và 0,1m = 4,3m, chiều dài nhà là 8m (6m +1,9m +0,1m tường riêng phía sau nhà) + 1,2m trước nhà là diện tích phát sinh (không hợp thức hóa). Như vậy, chiều ngang nhà được công nhận từ ban đầu là 4,3m, phần chiều dài được công nhận là 8m và có phần diện tích đã xây dựng nhưng không được hợp thức hóa là 4,3m x 1,2m = 5,16m2.
Theo Bản đồ địa chính Phường I lập năm 2001-2002, nhà đất số A N có diện tích khuôn viên đất 40,4m2, chiều ngang phía trước nhà (hướng đường N) là 4,2m.
Theo phía nguyên đơn xác định do không muốn kéo dài thời gian cấp Giấy chứng nhận nên nguyên đơn đã xây nhà mới và chừa lại bức tường mượn nằm bên trái (từ ngoài nhìn vào) ngang 0,1m và dài 3,88m. Điều này phù hợp với trình bày của D1 xác định ngày 03/7/2013, Ủy ban nhân dân Phường I, Quận D có Công văn số 145/UBND gửi Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Quận D, có nội dung: phần diện tích đất 1,1m2 không phải là đất lấn chiếm đất giải tỏa, mà do chủ nhà tự tạo lập trước 15/10/1993.
Ngày 03/7/2013, bà Huỳnh Thị Kim H có ý kiến như sau: sau khi Ủy ban nhân dân Phường I xác minh, phần diện tích ngoài bản đồ địa chính tôi đồng ý không công nhận vì do có nhu cầu xin phép xây dựng, đề nghị cấp Giấy chứng nhận theo đúng ngày hẹn trong biên nhận.
Như vậy, phía nguyên đơn đã không có yêu cầu đối với phần bức tường ranh đất này nên Ủy ban nhân dân Quận D1 đã cấp Giấy chứng nhận số CH 01971 ngày 17/7/2013 cho bà Huỳnh Thị Kim H (đồng sở hữu và đại diện cho các thừa kế của ông Võ Thanh Q), công nhận diện tích đất là 40,1m2; không công nhận diện tích đất là 0,3m2 do chủ nhà không còn sử dụng và không công nhận diện tích đất 1,1m2 ngoài bản đồ địa chính là đúng. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng việc đo đạc có sai sót là không đúng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng.
Trên thực tế, năm 2013 khi nguyên đơn xây dựng nhà đã tự nguyện để lại bức tường này, đến năm 2016 bị đơn xây dựng nhà cũng giữ nguyên bức tường này. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của của bị đơn và sửa Bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim H, giữ nguyên hiện trạng nhà đất như hiện nay.
[3] Về án phí:
- Bà Huỳnh Thị Kim H phải chịu tiền án phí sơ thẩm, ông Nguyễn Thành T không phải chịu.
- Do yêu cầu kháng được chấp nhận nên ông T không phải chịu tiền án phí phúc thẩm [4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thành T; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 1308/2022/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Căn cứ Căn cứ Điều 265 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ Khoản 2 Điều 164, Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H về việc “Công nhận phần tường ranh diện tích đất 0,5m² có vị trí số (9) tại Bản đồ hiện trạng, vị trí, áp ranh ngày 17/8/2020 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H”.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H về việc tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH00006 ngày 14/01/2010 do Ủy ban nhân dân Quận D1, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Thành T.
3. Chi phí tố tụng: nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H phải chịu 900.000 đồng. Khấu trừ tổng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 900.000 đồng theo các phiếu thu số AA/2017/0044509, AA/2017/0044510, AA/2017/0044511 cùng ngày 10/05/2018 (mỗi biên lai 300.000 đồng) của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh vào phần án phí phải chịu (đã nộp xong).
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành T không phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Cục Thi hành án dân sự Thành phố H hoàn trả cho ông T tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002888 ngày 06/09/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (đã nộp xong).
6. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 691/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 691/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 29/08/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về