Bản án về tranh chấp quyền sở hữu tài sản số 36/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 36/2024/DS-PT NGÀY 22/04/2024 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An kết nối với điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số: 53/2023/TLST - DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 80/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lang Văn T, sinh năm 1964; có mặt Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: Anh Lô Văn S, sinh năm 1983; vắng mặt Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Lô Văn S: Bà Mac Thị V, sinh năm 1962; địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Sầm Thị S1, sinh năm 1966; vắng mặt.

Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Chị Pá Thị N, sinh năm 1979; có mặt.

Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

4. Người làm chứng: Tòa án không triệu tập.

5. Người phiên dịch: Bà Lang Thị V1, sinh năm 1979; có mặt.

Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Người kháng cáo: Bị đơn: Anh Lô Văn S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện để ngày 24/4/2023, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lang Văn T trình bày:

Ông Lang Văn T và bà Sầm Thị S1 có nuôi được một đàn Bò gồm 17 con; trong đó có con Bò đực đang tranh chấp. Con Bò đực đang tranh chấp có đặc điểm: Chân thấp; thân ngắn, lông màu vàng đỏ; từ 2 chân trước về phía đầu màu hơi đen; phía sau màu lông hơi trắng; dưới đuôi mất có màu lông hơi trắng; có 01 xoáy ở trán; 01 xoáy ở trên lưng; 02 xoáy ở hai bên tai; 01 xoáy ở cổ; mũi hơi sứt; Bò đẻ ngày 02/02/2020; bò đã thây 4 răng. Con bò đang tranh chấp còn có mẹ của nó; bò thường thả trên rừng cao su thuộc bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; con B đang tranh chấp thường đi với đàn bò nhà ông Đ, ngày 01/4/2023 ông T đi kiểm tra thì không thấy ở với đàn bò ông Đ nữa, ông T đi tìm thì thấy buộc trong chuồng bò nhà anh Lô Văn S. Ông T xin lấy bò về nhưng anh S không cho và nói là bò của anh S. Ông T yêu cầu thả con bò đang tranh chấp ra nếu con bò đang tranh chấp đi theo đàn bò nhà ai thì người đó được sở hữu, nhưng anh S không chấp nhận.

Tại phiên hòa giải ngày 04/5/2023 các đương sự đã thỏa thuận giám định gen; nếu kết quả giám định con Bò đang tranh chấp có quan hệ huyết thống mẹ - con với con Bò mạ của ông Lang Văn T thì anh Lô Văn S trả con bò đang tranh chấp cho ông Lang Văn T sở hữu và chịu toàn bộ chi phí; nếu con Bò đang tranh chấp không có quan hệ huyết thống mẹ - con với con Bò mạ của ông Lang Văn T thì ông T chịu tòa bộ chi phí và rút toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên sau khi có kết quả giám định gen khẳng định con Bò đang tranh chấp có quan hệ huyết thống mẹ - con với con Bò mạ của ông Lang Văn T, nhưng anh Lô Văn S không chấp nhận trả con Bò cho ông Lang Văn T theo thỏa thuận.

Vậy ông Lang Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lô Văn S trả lại cho ông T 01 con Bò đang tranh chấp để ông được sở hữu và anh S chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và giám định gen là 8.000.000đ (Tám triệu đồng) theo thỏa thuận.

Bản tự khai ngày 04/5/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Lô Văn S trình bày:

Gia đình anh Lô Văn S và chị Pá Thị N có nuôi được một đàn Bò; trong đó có con Bò đực đang tranh chấp có đặc điểm: Bò đực màu đen vàng; có 01 xoáy ở giữa trán; 02 xoáy ở giữa 2 sừng; 02 xoáy ở hai chân trước; 02 xoáy ở đầu gối chân trước; 02 xoáy ở hai bên hông; 01 xoáy ở cổ phía bên trái; 01 xoáy ở trên lưng; phía dưới cổ chân phải có 01 vết sẹo; bò đẻ tháng 6/2020; bò đặt tên là B1; bò đã sâu mũi; bò nhà anh S thường thả trên rừng cao su thuộc bản Na chạng, xã T, huyện Q; đến tháng 4/2022 bò bị thất lạc, gia đình đi tim khắp nơi nhưng không thấy, trước khi thất lạc con bò của anh S có buộc dây ủ bằng dây cước màu xanh; đến tháng 2/2023 anh S tìm thấy bò ở trên đường gần rừng cao su thuộc bản N, xã T, huyện Q nhưng không có dây ủ nữa; thấy mũi bò gần sứt; sau khi đưa bò về khoảng 20 ngày thấy ông T đến nhận là bò của ông T. Con bò đang tranh chấp còn có mẹ của nó; đây là bò của hai vợ chồng anh S, nên anh S không nhất trí trả bò cho ông T. Anh Lô Văn S không nhất trí với kết luận giám định gen và yêu cầu Tòa án căn cứ vào lời khai của những người làm chứng để giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Sầm Thị S1 trình bày: Bà Sầm Thị S1 thống nhất với ý kiến của ông Lang Văn T trình bày và khẳng định con B đang tranh chấp là Bò của gia đình bà và yêu cầu bị đơn anh Lô Văn S trả lại con Bò cho ông Lang Văn T được sở hữu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Pá Thị N trình bày: Chị Pá Thị N thống nhất với ý kiến của anh Lô Văn S, khẳng định Bò tranh chấp là của gia đình anh Lô Văn S và không nhất trí trả Bò cho nguyên đơn Lang Văn T sở hữu.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DSST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Áp dụng các Điều 158, 163, 164, 166, 221 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Các Điều 147; 157, 158, 161, 162 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Buộc bị đơn anh Lô Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Pá Thị N trả lại 01 (Một) con bò đang tranh chấp có đặc điểm: Bò đực màu vàng sẵm, U hơi đen; có 16 xoáy, trong đó: 01 xoáy ở giữa trán; 02 xoáy ở hai gốc tai; 02 xoáy ở gần hai mắt; 02 xoáy ở phía trước hai tai; 02 xoáy ở 02 chân trước; 02 xoáy ở hai nách chân trước; 02 xoáy ở bụng giáp 02 chân sau; 02 xoáy ở giữa bụng; 01 xoáy ở cổ giáp chân trước bên trái; vòm miệng hơi trắng; đuôi dài quá khửu; sừng dài khoảng 07 cm; B đã thay 4 răng đã mọc đều; Bò khoảng 55 kg thịt. Trị giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho nguyên đơn ông Lang Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Sầm Thị S1.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí giám định gen và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/8/2023, bị đơn anh Lô Văn S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án đề nghị không căn cứ vào kết quả giám định, mà chỉ căn cứ vào lời khai người làm chứng để giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

1. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

2. Quan điểm kiến giải quyết vụ án : Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Lô Văn S, giữ nguyên bản án sơ thẩm: Buộc anh Lô Văn S và chị Pá Thị N trả lại con bò đang tranh chấp cho ông Lang Văn T sở hữu;

Anh Lô Văn S phải chịu 8.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí giám định gen.

- Về án phí: Các đương sự đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình anh Lô Văn S thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 24/4/2023, ông Lang Văn T nộp đơn khởi kiện vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu tài sản” đối với ông Lô Văn S, bà Sầm Thị S1, có địa chỉ tại Bản N, xã T, huyện Q, Nghệ An, theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 không tính thời hiệu đối với các tranh chấp quyền sở hữu tài sản nên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 24/8/2023 bị đơn Lô Văn S kháng cáo bản án sơ thẩm số 02/2023/DSST ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong. Theo quy định tại các Điều 271, 272, 273, 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự kháng cáo của anh S là hợp lệ được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn, thấy rằng Quá trình giải quyết vụ án cả nguyên đơn và bị đơn đều khẳng định hai gia đình đều có chăn nuôi Bò theo hình thức thả rong và đều thả trong vùng rừng cao su thuộc bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Cả nguyên đơn và bị đơn cho rằng con bò đang tranh chấp đều đang còn mẹ. Căn cứ yêu cầu của các đương sự ngày 11/5/2023 Tòa án nhân dân huyện Quế Phong đã tiến hành lấy mẫu giám định gen như sau:

- Cắt tai con bò đực đang tranh chấp hiện nay bị đơn anh Lô Văn S đang chăn giữ cho vào lọ nhựa có nắp đậy, bên trong có chứa cồn y tế và niêm phong lại, bên ngoài ghi ký hiệu F2.

- Cắt tai con bò mạ theo nguyên đơn cho rằng là mẹ của con bò đang tranh chấp hiện nay ông Lang Văn T đang chăn giữ cho vào lọ nhựa có nắp đậy, bên trong có chứa cồn y tế và niêm phong lại, bên ngoài ghi ký hiệu F1A.

- Cắt tai con bò mạ theo bị đơn cho rằng là mẹ của con bò đang tranh chấp hiện nay anh Lô Văn S đang chăn giữ cho vào lọ nhựa có nắp đậy, bên trong có chứa cồn y tế và niêm phong lại, bên ngoài ghi ký hiệu F1B.

Toàn bộ mẫu so sánh cho vào phong bì thư của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, niêm phong lại, có chữa ký và điểm chỉ của những người tham gia lấy mẫu; đóng dấu giáp lai của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ kết quả giám định số 04/PTNTĐ - KHCN ngày 24/5/2023 của Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ tế bào động vật - thuộc Viện chăn nuôi kết luận: “Mẫu Bò có ký hiệu F1A có quan hệ huyết thống mẹ - con với mẫu B có ký hiệu F2; Mẫu Bò có ký hiệu F1B không có quan hệ huyết thống mẹ - con với mẫu B có ký hiệu F2”.

Như vậy, kết luận giám định này là căn cứ khoa học, chính xác, khách quan nhất để xác định con Bò đực là tài sản đang chấp và con mẹ hiện nay do nguyên đơn ông Lang Văn T đang chăn giữ có quan hệ huyết thống mẹ con; con Bò đực là tài sản đang chấp và con mẹ hiện nay do bị đơn anh Lô Văn S đang chăn giữ không có quan hệ huyết thống mẹ con. Điều đó khẳng định con B đực đang tranh chấp là của nguyên đơn và không phải bò của bị đơn.

Bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm phải căn cứ vào lời khai người làm chứng để giải quyết vụ án mới đúng vì phía bị đơn có nhiều người làm chứng công nhận đó là con bò của bị đơn. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy, để giải quyết tranh chấp trong vụ án nếu chỉ căn cứ vào lời khai của các đương sự cũng như người làm chứng để xác định tài sản tranh chấp là của ai thì chưa có sức thuyết phục và không đảm bảo sự chính xác, khách quan mà phải dựa trên căn cứ khoa học là Kết quả giám định gen. Như vậy, Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc anh Lô Văn S và chị Pá Thị N trả lại con B đang tranh chấp cho nguyên đơn ông Lang Văn T sở hữu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí giám định gen: Do Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lang Văn T, nên anh Lô Văn S phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí giám định gen.

[3] Về án phí: Gia đình anh Lô Văn S thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Lô Văn S, giữ nguyên bản án sơ thẩm .

Áp dụng các Điều 158, 163, 164, 166, 221 Bộ luật dân sự; các Điều 147, 148, 157, 158, 161, 162 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Buộc bị đơn anh Lô Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Pá Thị N trả lại 01 (Một) con bò đang tranh chấp, có đặc điểm: Bò đực màu vàng sẫm, U hơi đen; có 16 xoáy, trong đó: 01 xoáy ở giữa trán; 02 xoáy ở hai gốc tai; 02 xoáy ở gần hai mất; 02 xoáy ở phía trước hai tai; 02 xoáy ở 02 chân trước; 02 xoáy ở hai nách chân trước; 02 xoáy ở bụng giáp 02 chân sau; 02 xoáy ở giữa bụng; 01 xoáy ở cổ giáp chân trước bên trái; vòm miệng hơi trắng; đuôi dài quá khứu; sừng dài khoảng 07 cm; B đã thay 4 răng đã mọc đều; Bò khoảng 55 kg thịt. Trị giá 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho nguyên đơn ông Lang Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Sầm Thị S1.

- Anh Lô Văn S phải chịu 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) tiền xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí giám định gen (anh Lô Văn S đã nộp đủ số tiền trên).

2. Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho bị đơn anh Lô Văn S.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

67
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

 Bản án về tranh chấp quyền sở hữu tài sản số 36/2024/DS-PT

Số hiệu:36/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 22/04/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;