Bản án về tranh chấp QSDĐ, yêu cầu di dời vật kiến trúc trên đất, yêu cầu hủy hợp đồng dân sự, yêu cầu công nhận QSDĐ, yêu cầu hủy GCN QSDĐ số 742/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án 742/2024/DS-PT ngày 11/09/2024 về tranh chấp QSDĐ, yêu cầu di dời vật kiến trúc trên đất, yêu cầu hủy hợp đồng dân sự, yêu cầu công nhận QSDĐ, yêu cầu hủy GCN QSDĐ

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 627/2023/TLPT- DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời vật kiến trúc trên đất, yêu cầu hủy hợp đồng dân sự, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2687/2024/QĐPT-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Bà Lâm Thị Quốc T, sinh năm 1954 – Có mặt;

Địa chỉ: Số 114/2B Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

Địa chỉ liên lạc: Số 42/21 đường số 5, Khu phố 6, phường Bình Hưng H A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2. Bà Lâm Ngọc T1, sinh năm 1950 – Vắng mặt;

Địa chỉ: Số 42/8 Lý Tự Tr, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của bà Lâm Ngọc T1: Bà Lâm Thị Quốc T (là nguyên đơn, Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2020) – Có mặt;

2. Bị đơn: Bà Đoàn Thị M, sinh năm 1956 (chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đoàn Thị M và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Chị Nguyễn Đoàn Thanh T2, sinh năm 1976 – Vắng mặt;

2.2. Anh Nguyễn Đoàn Thanh T3, sinh năm 1984 – Vắng mặt;

2.3. Chị Nguyễn Đoàn Thanh T4, sinh năm 1992 – Vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Số 114/2B Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Nguyễn Thúy Đ, sinh năm 1948 – Vắng mặt;

Địa chỉ: Số 15/4 Trần Hưng Đ, Tổ 1, khóm Bình L 4, phường Mỹ B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

3.2. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1963 – Vắng mặt;

Địa chỉ: Số 114/2B Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

3.3. Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

Địa chỉ: Số 99 Nguyễn Thái H nối dài, phường Mỹ H, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;

Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên:

Ông Đinh Văn B – Chủ tịch (Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt);

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lâm Thị Quốc T;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 07/5/2020 và lời khai trong quá trình quyết vụ án, nguyên đơn bà Lâm Thị Quốc T (và cũng là người đại diện hợp pháp của bà Lâm Ngọc T1) trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Nguyễn Thanh V và cụ Lâm Ngọc Y (là cha mẹ của bà Lâm Thị Quốc T và bà Lâm Ngọc T1) mua của vợ chồng cụ Đoàn Văn Đ và cụ Ngô Thị P 02 địa bộ, gồm: 0 ha 1300, địa bộ cũ 569, địa bộ mới 24, tờ bản đồ 24 và 0 ha 0237, địa bộ cũ 568, địa bộ mới 768, tờ bản đồ 25. Tổng diện tích là 0 ha 1537 (là 1.537 m2), có kê khai từng biển số nhà vào năm 1976.

Ngày 10/8/1980, cụ Đ và cụ P gửi đơn xin chính quyền địa phương cho phép làm thủ tục sang nhượng nhà và đất thổ cư gắn liền với hai thửa đất nêu trên cho cụ V và cụ Y. Cụ Đ, cụ P ký “Tờ xin phép chính quyền cho phép sang nhượng mua bán” cho cụ V, cụ Y và đã nhận đủ số tiền 10.000 đồng do cụ V, cụ Y trả. Từ năm 1980, cụ Đ, cụ P đã giao nhà đất và bản chính toàn bộ giấy tờ cho cụ V, cụ Y. Trên đất có nhà máy nước đá khoảng 59 m2 và sân phơi lúa khoảng 100 m2. Việc mua bán nhà đất giữa cụ Đ, cụ P với cụ V, cụ Y đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận diện tích là 1.500 m2, Ủy ban nhân dân thị xã Long X chứng nhận, được Công ty Xây dựng Quản lý đất đai An G thừa nhận, đúng quy định của pháp luật, không ai tranh chấp.

Năm 1983, con của cụ Đ, cụ P là ông Đoàn Minh T5 cùng vợ là bà Nguyễn Thúy Đ xin ở nhờ trên đất của cụ V và cụ Y đã mua như trên, diện tích nhà khoảng 55 m2. Sau đó, ông T5 làm giấy tay bán đất cho bà Đoàn Thị M và bà M được Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 06708 ngày 14/6/2019, diện tích 195,6 m2 tọa lạc số 114/2B Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên. Việc ông T5 bán nhà đất cho bà M và việc bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái quy định của pháp luật.

Năm 2000, cụ V chết, đến năm 2007 cụ Y chết. Cụ V và cụ Y chỉ có 02 người con là bà T với bà T1.

Bà Lâm Thị Quốc T và bà Lâm Ngọc T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 756170, số vào sổ CH 06708, diện tích 195,6 m2, thuộc thửa số 144, Tờ bản đồ số 12, tọa lạc số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho bà Đoàn Thị M ngày 14/6/2019.

- Buộc bà Đoàn Thị M cùng các con của bà M (gồm chị Nguyễn Đoàn Thanh T2, anh Nguyễn Đoàn Thanh T3 và chị Nguyễn Đoàn Thanh T4) phải tháo dỡ, di dời nhà tại địa chỉ 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên để trả lại diện tích đất 195,6 m2 tại địa chỉ số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên cho bà Lâm Thị Quốc T với bà Lâm Ngọc T.

- Công nhận diện tích 195,6 m2 đất tại địa chỉ số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thuộc quyền sử dụng của bà Lâm Thị Quốc T với bà Lâm Ngọc T1.

- Hủy hợp đồng mua bán đứt một căn nhà ngày 12/6/1983 giữa bên bán là ông Đoàn Minh T5, bà Nguyễn Thúy Đ với bên mua là bà Đoàn Thị M.

Bị đơn bà Đoàn Thị M trình bày:

Ngày 12/6/1983, vợ chồng ông Đoàn Minh T5, bà Nguyễn Thúy Đ lập Hợp đồng bán đứt căn nhà số 114/2B Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên cho bà M. Diện tích nhà ngang 05 mét x dài 12 mét, bên hông còn đất trống cách 02 mét, phía sau cách 04 mét, trước sân nhà 04 mét, có tường rào kẽm gai xung quanh khu đất, với giá 04 lượng vàng 24K. Hai bên đã giao nhận nhà đất và thanh toán xong. Bà M quản lý sử dụng nhà từ năm 1983 đến nay.

Việc tranh chấp đất đai giữa cụ V, bà T với bà M từ năm 1993 kéo dài qua nhiều năm đã được Ủy ban nhân dân các cấp, Chính phủ đều giải quyết cho bà M được sử dụng nhà đất đã nhận chuyển nhượng của ông T5 từ năm 1983. Tòa án các cấp hủy các quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về giải quyết tranh chấp đất giữa bà T với bà M. Sau đó, bà T khởi kiện vụ án dân sự, nhưng Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên trả lại đơn kiện của bà T ngày 22/02/2019, bà T khiếu nại thì Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên không chấp nhận khiếu nại của bà T.

Ngày 14/6/2019, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M, diện tích 195,6 m2.

Việc bà T với bà T1 cho rằng diện tích 195,6 m2 là của cụ Đ, cụ P chuyển nhượng cho cụ V, cụ Y là không có cơ sở, vì các giấy tờ chuyển nhượng đất giữa các cụ đều không thể hiện diện tích chuyển nhượng là bao nhiêu, 1.537 m2 hay 1.500 m2, mà chỉ thể hiện chuyển nhượng nhà số 114/2B  Nguyễn Trường T (nay là Bùi Văn D) với diện tích đất là 150 m2.

Bà M không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T và bà T1, đồng thời xuất trình các tài liệu sau:

- Cụ Ngô Thị P lập Giấy xác nhận ngày 11/7/2006, có công chứng tại Phòng công chứng số 01 tỉnh An Giang và Tờ tường trình ngày 03/8/2006 gửi Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xác nhận chỉ chuyển nhượng cho cụ V, cụ Y căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T (nay là Bùi Văn D) gắn với diện tích đất ngang 10 mét x dài 15 mét = 150 m2.

- Hợp đồng bán đứt nhà đất cho bà M năm 1983, mặt sau hợp đồng này có xác nhận của bà Đ ngày 16/02/2003 và bà Đ lập giấy xác nhận ngày 06/9/2007 có nội dung: Cụ Đ, cụ P chuyển nhượng cho cụ V nhà diện tích ngang 10 mét x dài 15 mét = 150 m2.

- Căn nhà số 114/2B Bùi Văn D là của ông T5, bà Đ cất từ năm 1970. Ngày 12/6/1983, ông T5 có làm đơn gửi chính quyền địa phương yêu cầu xác nhận nhà, đất 114/2B Bùi Văn D thuộc quyền sở hữu của ông T5, bà Đ.

- Thông báo số 159/TB-UBND ngày 27/10/2008 có nội dung không công nhận việc mua bán đất giữa cụ Đ cho cụ V năm 1980; giữ nguyên hiện trạng sử dụng ổn định cho bà M từ năm 1983 đến nay.

- Văn bản số 891/BTNMT ngày 26/3/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường có nội dung giữ nguyên hiện trạng nhà, đất cho bà M sử dụng.

- Văn bản số 17/BC-UBND ngày 16/4/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang báo cáo Thủ tướng Chính phủ có nội dung giữ nguyên hiện trạng nhà, đất cho bà M sử dụng ổn định từ năm 1983, như văn bản ngày 09/10/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

- Gia đình bà M đã sử dụng ổn định từ năm 1983 và bà M đã được Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2019.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H trình bày:

Thống nhất ý kiến và lời trình bày của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các anh, chị: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4: Không có văn bản trình bày ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên trình bày: Đề nghị vắng mặt suốt quá trình tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 91, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, khoản 1 Điều 117, Điều 688 Bộ luật dân sự; Điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị Quốc T và Lâm Ngọc T1 về:

- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 756170, số vào sổ CH 06708, diện tích 195,6 m2, thuộc thửa số 144, Tờ bản đồ số 12, tọa lạc số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho bà Đoàn Thị M ngày 14/6/2019.

- Yêu cầu bà Đoàn Thị M cùng các con của bà M (gồm chị Nguyễn Đoàn Thanh T2, anh Nguyễn Đoàn Thanh T3 và chị Nguyễn Đoàn Thanh T4) phải tháo dỡ, di dời nhà tại địa chỉ 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên để trả lại diện tích đất 195,6 m2 tại địa chỉ số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên cho bà Lâm Thị Quốc T với bà Lâm Ngọc T1.

- Yêu cầu công nhận diện tích 195,6 m2 đất tại địa chỉ số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thuộc quyền sử dụng của bà Lâm Thị Quốc T với bà Lâm Ngọc T1.

- Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán đứt một căn nhà ngày 12/6/1983 giữa bên bán là ông Đoàn Minh T5, bà Nguyễn Thúy Đ với bên mua là bà Đoàn Thị M.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc; về án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/7/2023, nguyên đơn bà Lâm Thị Quốc T (và cũng là người đại diện hợp pháp của bà Lâm Ngọc T1) có đơn kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Bà Lâm Thị Quốc T giữ nguyên kháng cáo yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà ngày 12/6/1983 giữa ông T5, bà Đ với bà M; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M; Buộc bà M cùng các con của bà M di dời nhà trả diện tích 195,6 m2 cho bà với bà T1 và công nhận cho bà với bà T1 được quyền sử dụng diện tích 195,6 m2. Lý do: Nguồn gốc đất là của cha mẹ của bà là cụ V, cụ Y mua của cụ Đ và cụ P vào năm 1980, được chính quyền địa phương xác nhận với diện tích 1.500 m2 là phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 1993. Căn nhà số 114/2B Bùi Văn D của ông T5, bà Đ đã có từ trước khi cụ V, cụ Y mua nhà đất của cụ Đ, cụ P. Căn nhà của ông T5, bà Đ chỉ có 55 m2 và chỉ bán nhà cho bà M chứ không có bán đất cho bà M. Bà M xây dựng nhà vượt hơn 55 m2 là lấn chiếm đất trái phép, nhiều lần bị chính quyền địa phương phạt vi phạm hành chính, buộc tháo dỡ. Bà M không có bất cứ một loại giấy tờ gì theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai năm 2003. Cụ P ở bên Pháp đã gửi văn bản về xác định cụ đã bán cho cụ V toàn bộ nhà và đất; ông C là con của cụ Đ cũng xác nhận cụ Đ, cụ P đã bán cho cụ V toàn bộ nhà và đất diện tích 1.500 m2 chứ không phải chỉ bán căn nhà diện tích 150 m2. Thanh tra tỉnh An Giang và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã báo cáo sai sự thật cho Thủ tướng, vào năm 2009, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng cũng đã có văn bản chỉ đạo cho Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh An Giang giải quyết nhưng đến nay vẫn chưa được thực hiện. Các bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp đối với 03 căn nhà khác nằm trên phần đất của cụ V mua của cụ Đ cũng đều công nhận cụ V mua của cụ Đ là trọn thửa đất diện tích 1.500 m2. Do đó, yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà với bà T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến Hội đồng xét xử phúc thẩm và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Đơn kháng cáo hợp lệ; về nội dung đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bà Lâm Thị Quốc T đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Phiên tòa được triệu tập hợp lệ đến lần thứ ba, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên có yêu cầu xét xử vắng mặt; các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4, Nguyễn Thanh H, Nguyễn Thúy Đ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, việc xét xử phúc thẩm vẫn được tiến hành.

[2] Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp thuộc một phần diện tích đất của cụ Đoàn Văn Đ và cụ Ngô Thị P, trên đất có căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T (nay là nhà số 114/2B Bùi Văn D) của cụ Đ, cụ P và căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T (nay là nhà số 114/2B Bùi Văn D) của ông Đoàn Minh T5 cất từ năm 1970.

Đến năm 1980, cụ Đoàn Văn Đ và Ngô Thị P lập “Văn tự bán sang nhượng nhà ở có thổ cư” được Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên chấp thuận ngày 18/8/1980, thể hiện cụ Đ và cụ P sang nhượng cho cụ Lâm Ngọc Y 01 căn nhà số 114/2B đường Nguyễn Trường T, Khóm 4, phường Mỹ L, thị xã Long X, tỉnh An Giang và 02 sở đất thổ cư gồm:“Diện tích 0,1300 ha, địa bộ cũ 569, mới 24, số bản đồ 24 và diện tích 0.237 ha, địa bộ cũ 568, mới 768, số bản đồ 25”. Tại thời điểm này trên đất đã có căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T của ông Đoàn Minh T5.

Ngày 12/6/1983, ông Đoàn Minh T5 làm “Tờ xác nhận chủ quyền” được chính quyền địa phương xác nhận ngày 16/6/1983, nội dung ông Đoàn Minh T5 là chủ căn nhà số 114/2B, diện tích 05 m x 11 m = 55 m2. Cùng ngày 12/6/1983, vợ chồng ông Đoàn Minh T5, bà Nguyễn Thúy Đ lập giấy tay “Hợp đồng mua bán đứt một căn nhà” cho bà Đoàn Thị M, ghi nhận: “Căn nhà…ngang 05 m dài 12 m. Hai bên hông nhà có đất khoảng cách 02 m, phía sau 04 m trước sân 04 m, chung quanh có rào kẽm gai”.

Tháng 5 năm 1993, bà Đoàn Thị M có đơn xin sửa hàng rào, mặc dù không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, nhưng bà Đoàn Thị M đã tiến hành xây dựng hàng rào. Cụ Nguyễn Thanh V cho rằng bà M đã lấn chiếm phần đất thổ cư 144,4 m2 của cụ đã nhận chuyển nhượng của cụ Đ, nên không đồng ý cho xây hàng rào kiên cố, mà chỉ đồng ý cho bà M sử dụng căn nhà là 55 m2 (05 mét x 11 mét) và khiếu nại đến chính quyền, nên phát sinh tranh chấp.

Ngày 15/10/1993, cụ V kê khai đăng ký nhà, đất tổng diện tích 675 m2 (Trong đó: Để ở và phục vụ sinh hoạt là 476 m2, đất trống 136 m2, đất mồ mả 63 m2) và nộp thuế sử dụng đất hàng năm trên diện tích 612 m2.

Bà Đoàn Thị M tuy không đăng ký kê khai nhà đất, nhưng có nộp thuế nhà, đất diện tích 181 m2. Bản Trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh Long Xuyên lập ngày 15/6/2021 thể hiện bà Đoàn Thị M quản lý sử dụng 195,6 m2, trên đất có căn nhà diện tích 142,3 m2.

[3] Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Long X ban hành Quyết định số 71/QĐ-UB ngày 07/8/1997, bác yêu cầu khiếu nại của cụ V về việc tranh chấp đất thổ cư với bà M.

Cụ V khiếu nại. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 1206/QĐ-UB-KN ngày 17/5/2002, bác đơn khiếu nại của bà T (do cụ V ủy quyền), giữ nguyên Quyết định số 71/QĐ-UB ngày 07/8/1997 của Ủy ban nhân dân thị xã Long X.

Bà T khiếu nại. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 466/QĐ-UB-KN ngày 26/10/2004, thu hồi Quyết định số 1206/QĐ-UB- KN ngày 17/5/2002 và giao Ủy ban nhân dân thị xã Long X thu hồi Quyết định số 71/QĐ-UB ngày 07/8/1997; Cho bà M được hợp thức hóa căn nhà diện tích 55 m2, tiến hành hòa giải giữa bà T với bà M.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 2284/QĐ-UBND ngày 15/8/2016 công nhận hiện trạng sử dụng diện tích 197,6 m2 đất tại nhà số 114/2B cho bà M, bãi bỏ Quyết định số 466/QĐ-UB-KN ngày 26/10/2004, Quyết định số 1206/QĐ-UB-KN ngày 17/5/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và Quyết định số 71/QĐ-UB ngày 07/8/1997 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Long X do có nội dung trái với quyết định này.

Bà M khởi kiện đến Tòa án. Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 99/2018/HC-PT ngày 18/4/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2017/HC-ST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, hủy các quyết định: Quyết định số 2284/QĐ-UBND ngày 15/8/2016, Quyết định số 466/QĐ-UB-KN ngày 26/10/2004, Quyết định số 1206/QĐ-UB-KN ngày 17/5/2002 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và Quyết định số 71/QĐ-UB ngày 07/8/1997 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Long X.

Ngày 14/6/2019, Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Đoàn Thị M, thửa đất số 144, diện tích 195,6 m2, loại đất ở đô thị.

[4] Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện vào năm 1980, mẹ của bà Lâm Thị Quốc T là cụ Lâm Ngọc Y đã nhận chuyển nhượng của cụ Đoàn Văn Đ và cụ Ngô Thị P 02 sở đất với tổng diện tích là 1.537 m2 và căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T trên đất. Tại thời điểm này trên đất đã có căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T (nay là Bùi Văn D) của ông Đoàn Minh T5 nên cụ Đ, cụ P về ở chung với ông T5 trong căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T, nhưng trong Văn bản chuyển nhượng nhà đất giữa cụ Đ, cụ P với cụ Y không đề cập đến căn nhà và diện tích đất trong khuôn viên căn nhà số 114/2B Nguyễn Trường T.

Tuy nhận chuyển nhượng diện tích 1.537 m2, nhưng đến ngày 15/10/1993 cụ V kê khai nhà, đất với tổng diện tích chỉ có 675 m2 và nộp thuế sử dụng đất diện tích 612 m2.

Ngày 12/6/1983, ông T5 có Tờ xin xác nhận chủ quyền căn nhà 114/2B Bùi Văn D diện tích 55 m2, được chính quyền địa phương xác nhận và cùng ngày 12/6/1983, khi chuyển nhượng nhà, đất cho bà Đoàn Thị M thì vợ chồng ông T5, bà Nguyễn Thúy Đ chuyển nhượng diện tích 180 m2 (Căn nhà ngang 05 m x dài 12 m. Hai bên hông nhà có đất khoảng cách 02 m, phía sau 04 m, trước sân 04 m, chung quanh có rào kẽm gai). Như vậy, có căn cứ để xác định bà M đã nhận chuyển nhượng căn nhà 114/2B Bùi Văn D và khuôn viên đất diện tích 180 m2. Trong quá trình sử dụng nhà đất, bà M đã tự ý xây hàng rào bằng vật liệu nặng thì cụ V khiếu nại và chính quyền địa phương đã nhiều lần ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, buộc bà M khôi phục lại tình trạng ban đầu (Quyết định số 80/QĐ.UB ngày 18/5/1993 và Quyết định số 38/BDN ngày 26/5/1993 của Ủy ban nhân dân phường Mỹ X; Quyết định số 322/QĐ.UB ngày 01/6/1993 của Ủy ban nhân dân thị xã Long X), nhưng bà M vẫn tiến hành xây dựng xong, hiện nay bà M quản lý sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích là 195,6 m2.

[5] Căn nhà 114/2B Bùi Văn D đã có từ trước nhưng trong văn bản chuyển nhượng nhà đất giữa cụ Đ, cụ P với cụ Y không có nội dung chuyển nhượng căn nhà 114/2B Bùi Văn D cùng khuôn viên đất của ông T5 đang quản lý sử dụng; đồng thời trong văn bản chuyển nhượng nhà đất giữa cụ Đ, cụ P với cụ Y cũng nêu rõ và thực tế sau khi chuyển nhượng nhà đất cho cụ Y thì cụ Đ, cụ P đã về sống chung với ông T5 tại căn nhà 114/2B Bùi Văn D, nên có căn cứ để xác định cụ Đ và cụ P không chuyển nhượng cho cụ Y căn nhà 114/2B Bùi Văn D cùng khuôn viên đất diện tích 180 m2. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, bà T1 đối với diện tích 180 m2 đất này.

Bà M nhận chuyển nhượng diện tích chỉ có 180 m2 nhưng lại quản lý sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 195,6 m2 nên có căn cứ xác định phần diện tích 15,6 m2 (195,6 m2 – 180 m2) thuộc phần đất của cụ Y đã nhận chuyển nhượng của cụ V và cụ P, nên chấp nhận một phần kháng cáo của bà T.

[6] Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên xảy ra đã rất lâu, từ năm 1993 đến nay, đã được giải quyết qua nhiều lần, qua nhiều cấp chính quyền từ cơ sở cho đến có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, nên để ổn định cho các bên đương sự, không buộc hoàn trả bằng hiện vật, mà công nhận cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M toàn bộ diện tích 195,6 m2 và do những người kế thừa kế của bà M được công nhận quyền sử dụng đất của bà M để lại nên phải bồi hoàn cho bà T, bà T1 giá trị quyền sử dụng diện tích 15,6 m2 theo giá thị trường và vì vậy không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M.

Theo Chứng thư thẩm định giá số 337-2024/CT-VVAC ngày 17/7/2024 của Công ty Cổ phần Thẩm định giá trị Việt thì giá quyền sử dụng đất là 17.399.000 đồng/m2 x 15,6 m2 = 271.424.400 đồng.

[7] Do sửa Bản án sơ thẩm nên căn cứ Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 và Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xác định lại án phí như sau:

Do được chấp nhận một phần khởi kiện nên bà T và bà T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 13.571.220 đồng, làm tròn 13.571.200 đồng.

Do được chấp nhận một phần kháng cáo nên bà T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[8] Về chi phí định giá tại cấp phúc thẩm là 7.200.000 đồng và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp sơ thẩm là 1.612.000 đồng. Tổng cộng 8.812.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4 phải chịu toàn bộ và phải nộp để hoàn trả lại cho nguyên đơn (do nguyên đơn đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền này);

[9] Do chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn nên ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ phù hợp một phần, nên chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lâm Thị Quốc T; Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 18/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, như sau:

2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Quốc T và bà Lâm Ngọc T1;

Buộc bà Đoàn Thị M (do người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M thực hiện, gồm các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4) bồi hoàn cho bà Lâm Thị Quốc T và Lâm Ngọc T1 giá trị quyền sử dụng diện tích 15,6 m2, với số tiền là 271.424.400 đồng (Hai trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm hai mươi bốn ngàn bốn trăm đồng);

Công nhận cho bà Đoàn Thị M (có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà M gồm các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4) được quyền sử dụng diện tích 195,6 m2 đất tại số 114/2B Bùi Văn D hiện do bà Đoàn Thị M đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 756170, số vào sổ CH 06708, diện tích 195,6 m2, thuộc thửa số 144, Tờ bản đồ số 12, tọa lạc số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho bà Đoàn Thị M ngày 14/6/2019.

Vị trí, diện tích, kích thước, hình thể, giáp giới được xác định theo Sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký Đất đai chi nhánh Long Xuyên lập ngày 15/6/2021 (bút lục số 637).

2.2. Không chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn Lâm Thị Quốc T và Lâm Ngọc T1 về các yêu cầu sau đây:

- Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 756170, số vào sổ CH 06708, diện tích 195,6 m2, thuộc thửa số 144, Tờ bản đồ số 12, tọa lạc số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho bà Đoàn Thị M ngày 14/6/2019.

- Yêu cầu bà Đoàn Thị M cùng các con của bà M (gồm các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3 và Nguyễn Đoàn Thanh T4) phải tháo dỡ, di dời nhà tại địa chỉ 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên để trả lại diện tích đất 195,6 m2 tại địa chỉ số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên cho bà Lâm Thị Quốc T với bà Lâm Ngọc T1.

- Yêu cầu công nhận diện tích 195,6 m2 đất tại địa chỉ số 114/2B đường Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thuộc quyền sử dụng của bà Lâm Thị Quốc T với bà Lâm Ngọc T1.

- Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán đứt một căn nhà ngày 12/6/1983 giữa bên bán là ông Đoàn Minh T5, bà Nguyễn Thúy Đ với bên mua là bà Đoàn Thị M.

2.3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Buộc các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3 và Nguyễn Đoàn Thanh T4 phải nộp 8.812.000 đồng (Tám triệu tám trăm mười hai ngàn đồng) và hoàn trả toàn bộ số tiền này cho bà Lâm Thị Quốc T.

3. Án phí:

Các đương sự: Nguyễn Đoàn Thanh T2, Nguyễn Đoàn Thanh T3, Nguyễn Đoàn Thanh T4 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 13.571.200 đồng (Mười ba triệu năm trăm bảy mươi mốt ngàn hai trăm đồng);

Bà Lâm Thị Quốc T và bà Lâm Ngọc T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Lâm Thị Quốc T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm;

4. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

17
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp QSDĐ, yêu cầu di dời vật kiến trúc trên đất, yêu cầu hủy hợp đồng dân sự, yêu cầu công nhận QSDĐ, yêu cầu hủy GCN QSDĐ số 742/2024/DS-PT

Số hiệu:742/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;