TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 776/2024/DS-PT NGÀY 17/09/2024 VỀ TRANH CHẤP QSDĐ, HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QSDĐ, HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN, HỢP ĐỒNG GÓP VỐN, HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ HỢP ĐỒNG SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 284/2024/TLPT- DS ngày 20 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng góp vốn, hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2693/2024/QĐPT-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đinh Gia H, sinh năm 1975 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Số 1162/xx, Đường 3/x, Phường 12, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh;
Tạm trú: Lô số 21-22K1, khóm Đông Th 6, phường Mỹ Ph, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của ông Đinh Gia H: Ông Trần Tiến V, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số 595/15 Hà Hoàng H, Tổ 1, khóm Đông H, phường Đông X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 20/01/2015 tại Văn phòng công chứng Long Xuyên) – Xin vắng mặt;
2. Bị đơn:
2.1. Ông Ngô Văn M, sinh năm 1957 – Vắng mặt;
2.2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957 – Có mặt;
Cùng địa chỉ: Số 921 Phạm Văn B, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị H1: Anh Ngô Hồng X, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 921 Phạm Văn B, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 02/7/2024 tại Văn phòng công chứng số 2 tỉnh An Giang) – Có mặt;
2.3. Bà Ngô Thị Diệu H2, sinh năm 1958 – Có mặt;
Địa chỉ: Số 923 Phạm Văn B, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp của bà Ngô Thị Diệu H2 (Văn bản ủy quyền ngày 15/7/2015 tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh An Giang):
2.3.1. Ông Lê Thành T, sinh năm 1978 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Số 923 Phạm Văn B, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
2.3.2. Bà Trần Thị Liên H3, sinh năm 1957 – Có mặt;
Địa chỉ: Số 43 Quang Tr, Tổ 12, khóm Châu Q 3, phường Châu P B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D;
Trụ sở chính: Số 25 Lê Đại H, phường Lê Đại H, quận Hai Bà Tr, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D (Văn bản ủy quyền số 950/2024/UQ-CTHĐQT ngày 08/4/2024 và Giấy ủy quyền số 5304/2024/UQ-BĐH-NCB ngày 05/8/2024):
- Ông Trần Văn T1, Phó phòng Tố tụng – Có mặt;
- Ông Tống Long H4, Chuyên viên xử lý nợ – Có mặt;
3.2. Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang – Vắng mặt;
Địa chỉ: Số 10 Lê L, phường Châu P B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.3. Ông Lê Thành T, sinh năm 1978 – Vắng mặt;
3.4. Ông Lê Thành S, sinh năm 1982 – Vắng mặt;
3.5. Bà Trần Thúy L, sinh năm 1980 – Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Số 923 Phạm Văn B, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.6. Anh Ngô Hồng X, sinh năm 1984 – Có mặt;
3.7. Chị Lý Hoàng Sao L, sinh năm 1989 – Vắng mặt;
3.8. Trẻ Ngô Xuân T2, sinh năm 2010 – Vắng mặt;
3.9. Trẻ Ngô Nhã U, sinh năm 2015 – Vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp của Ngô Xuân T2 và Ngô Nhã U: Anh Ngô Hồng X (có mặt) và chị Lý Hoàng Sao L (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số 921 Phạm Văn B, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.10. Ông Bạch Thành M1, sinh năm 1984 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Số 12A1, khóm Bình Th 1, phường Bình Kh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
3.11. Ông Nguyễn Phước H5, sinh năm 1961 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Số 116/3A Bùi Văn D, phường Mỹ X, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
3.12. Ông Lão Việt P, sinh năm 1954 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Số 88/1 Lê L, phường Mỹ B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Phước H5 và ông Lão Việt P: Ông Nguyễn Thanh H5, sinh năm 1976 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Số C4, Dự Đ 9, khóm Đông Th 7, phường Mỹ Ph, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (Hai văn bản ủy quyền cùng ngày 19/4/2016 tại Văn phòng công chứng Long Xuyên);
3.13. Ông Trịnh Quốc Đ, sinh năm 1957 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Xã Vĩnh Thạnh Tr, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang;
3.14. Ông Trịnh Quốc Đ1, sinh năm 1959 – Vắng mặt;
3.15. Bà Trịnh Thị Hồng V1, sinh năm 1966 – Vắng mặt;
3.16. Ông Trịnh Quốc T3, sinh năm 1979 – Vắng mặt;
3.17. Bà Trịnh Thị Diệu T4, sinh năm 1974 – Vắng mặt;
3.18. Bà Ngô Thị Diệu H6, sinh năm 1970 – Vắng mặt;
Cùng cư trú: Khóm Vĩnh T, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.19. Ông Trịnh Hoàng M2, sinh năm 1969 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Ấp Bà B, xã Vĩnh T, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.20. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1963 – Vắng mặt;
3.21. Bà Lê Thị C, sinh năm 1964 – Vắng mặt;
3.22. Bà Lê Thị B, sinh năm 1976 – Vắng mặt;
3.23. Bà Lê Thị T5, sinh năm 1977 – Vắng mặt;
3.24. Bà Lê Thị Mỹ L2, sinh năm 1972 – Vắng mặt;
3.25. Chị Ngô Thị Họa M3, sinh năm 1992 – Vắng mặt;
3.26. Chị Ngô Trà M4, sinh năm 1995 – Vắng mặt;
3.27. Anh Ngô Tuấn K, sinh năm 1999 – Vắng mặt;
3.28. Bà Ngô Diệu H7, sinh năm 1980 – Vắng mặt;
3.29. Bà Ngô Thị Ngọc C1, sinh năm 1985 – Vắng mặt;
3.30. Chị Ngô Thị Trúc M4, sinh năm 1990 – Vắng mặt;
3.31. Bà Ngô Thị Đ2, sinh năm 1950 – Vắng mặt;
3.32. Bà Trần Thị X1, sinh năm 1955 – Vắng mặt;
3.33. Ông Nguyễn Thành S1, sinh năm 1969 – Vắng mặt;
3.34. Chị Ngô Thị Diệu T6, sinh năm 2001 – Vắng mặt;
3.35. Bà Ngô Thị Diệu H8, sinh năm 1977 – Vắng mặt;
3.36. Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1982 – Vắng mặt;
3.37. Anh Ngô Quốc T7, sinh năm 2001 – Vắng mặt;
3.38. Chị Ngô Thị Ngọc T8, sinh năm 2002 – Vắng mặt;
3.39. Ông Ngô Quốc V2, sinh năm 1983 – Vắng mặt;
3.40. Bà Ngô Thị C2, sinh năm 1988 – Vắng mặt;
3.41. Anh Ngô Quốc P1, sinh năm 1993 – Vắng mặt;
3.42. Ông Ngô Văn N, sinh năm 1952 – Vắng mặt;
Cùng cư trú: Khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.43. Bà Ngô Thị L3, sinh năm 1961 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Tổ 22, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.44. Ông Lê Văn T9, sinh năm 1979 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Huyện Châu Thành, tỉnh An Giang;
3.45. Bà Ngô Thị Diệu E, sinh năm 1977 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Phường Châu P A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.46. Ông Lê Thanh V3, sinh năm 1975 – Vắng mặt;
Địa chỉ: Khóm Vĩnh Đ, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
3.47. Ông Nguyễn Hồng V4, sinh năm 1959 – Vắng mặt;
3.48. Bà Hồ Thị Kim H9, sinh năm 1970 – Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Số 19D4, khóm Mỹ Q, phường Mỹ Q, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang;
4. Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 19/5/2015, các đơn bổ sung và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đinh Gia H trình bày:
Ngày 23/11/2013, ông nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Phước H5 và ông Bạch Thành M1 diện tích 405,7 m2 (có lập hợp đồng chuyển nhượng có công chứng ngày 23/11/2013) và diện tích 207,4 m2 (có lập hợp đồng chuyển nhượng có công chứng ngày 09/01/2014) và ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04800 ngày 25/12/2013, Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2 đất ở và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04824 ngày 23/01/2014, Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2 đất ở tại phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Nguồn gốc 02 thửa đất trên là của bà Hồ Thị Kim H9 và ông Nguyễn Hồng V4 nhận chuyển nhượng của người khác (không rõ tên và địa chỉ) rồi chuyển nhượng lại cho ông với ông H5, ông M1. Đến ngày 23/11/2013 và ngày 09/01/2014 thì ông H5 và ông M1 chuyển nhượng lại cho ông.
Tại thời điểm bà H9, ông V4 chuyển nhượng đất cho ông, ông H5, ông M1 thì trên 02 thửa đất đã có dãy nhà ở và quán nước của người khác sử dụng. Bà H9 và ông V4 cam kết chịu trách nhiệm yêu cầu họ di dời nhà để giao đất cho các ông, nhưng bà H9 và ông V4 không thực hiện được lời hứa. Đến khi ông H5, ông M1 chuyển nhượng đất lại cho ông thì những người đang ở trên đất (sau này ông được biết là gia đình ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và gia đình bà Ngô Thị Diệu H2) không đồng ý di dời nhà và không đồng ý trả đất.
Ông Đinh Gia H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và gia đình bà Ngô Thị Diệu H2 di dời nhà và vật kiến trúc để giao trả đất lại cho ông.
Ông không đồng ý yêu cầu phản tố của ông M, bà H1 và bà H2.
Ông đồng ý yêu cầu độc lập của ông Lão Việt P, đồng ý trả cho ông P vốn gốc 2.600.000.000 đồng (gồm nợ hợp đồng góp vốn 2.500.000.000 đồng và nợ hợp đồng vay là 100.000.000 đồng) và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Ông không có ý kiến đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D (Viết tắt là Ngân hàng NCB).
Trong đơn phản tố và lời khai tiếp theo của bị đơn ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 cùng người đại diện hợp pháp của ông M, bà H1 trình bày:
Cha mẹ của ông M là cụ Ngô Văn H10, Mai Thị T10 được thừa hưởng đất thổ cư của cố Ngô Văn N1 thuộc địa bộ số 227, lô số 222, tờ bản đồ số 02, diện tích 4.625 m2 tại xã Vĩnh Tế theo Trích lục địa bộ ngày 18/3/1989 của Ban Quản lý ruộng đất thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang. Trên đất đã có sẵn căn nhà phủ thờ của ông bà để lại cho cụ H10, cụ T10.
Lô đất số 222, diện tích khoảng 4.625 m2 nằm liền ranh với Chùa Bà Núi S (đối diện Lăng Thoại Ngọc H), có một phần thuộc Tổ 22, hẻm Quốc lộ 91, khóm Vĩnh T 1 và một phần được Nhà nước trưng dụng vào năm 1986 để làm Cửa hàng Bông Đ thuộc Tổ 17, tiếp giáp Quốc lộ 91.
Con của cụ H10 với cụ T10 là bà Ngô Thị L3 và ông Ngô Văn M đại diện gia đình gửi đơn đòi lại phần đất tại Cửa hàng Bông Đ. Chính quyền xác minh nguồn gốc đất của cụ H10, cụ T10 nên Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 283/QĐ.UB ngày 14/4/1995 chấp nhận khiếu nại của ông M, bà L3, buộc Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đ tháo dỡ mái che của Cửa hàng Bông Đ và giao lại nguyên trạng đất cho gia đình ông M, bà L3 sử dụng.
Tháng 11/1993, cụ H10, cụ T10 và 08 người con ký tên lập Tờ cho đứt quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông M một phần đất trong lô đất số 222. Năm 1993, vợ chồng ông M, bà H cất nhà ở và đăng ký hộ khẩu thường trú tại phần đất thuộc Tổ 17, Quốc lộ 1, khóm Vĩnh T 1; Phần đất còn lại ở Tổ 17 thì bà L3 cho bà Ngô Thị Diệu H2 thuê làm quán nước giải khát.
Phần đất tại Tổ 22 có nhà phủ thờ của cụ H10, cụ T10 (bà L3 chung sống với hai cụ); nhiều nhà ở của con cháu của hai cụ và vợ chồng ông M, bà H cũng có một căn nhà tại phần đất ở Tổ 22.
Cụ H10 chết năm 1994, cụ T10 chết năm 1997.
Vào ngày 08/9/1999, anh chị em của ông M thống nhất cho bà L3 đứng tên quyền sử dụng đất tại Tổ 22 và bà L3 kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất thì những người ở trên đất Tổ 22 (trong đó có Chùa Định L) lập Tờ cam kết ngày 20/8/2003 thừa nhận ở nhờ trên đất của bà L3.
Khi Tòa án thông báo việc ông H khởi kiện thì ông M và bà H1 mới biết bà L3 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Tổ 17 là đất có nhà ở của ông M, bà H1 được cụ H10, cụ T10 tặng cho năm 1993 và được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang trao trả theo Quyết định số 283/QĐ-UB ngày 14/4/1995.
Ông M và bà H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H, không đồng ý trả giá trị vật kiến trúc theo yêu cầu của bà H2, không đồng ý yêu cầu của Ngân hàng NCB về duy trì hợp đồng thế chấp 02 quyền sử dụng đất trên.
Ông M và bà H1 phản tố yêu cầu:
- Công nhận cho ông M, bà H1 diện tích 202,85 m2 (là 1/2 diện tích 405,7 m2) thuộc Thửa đất số 193, Tờ bản đồ số 35, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S;
- Công nhận cho ông M, bà H1 diện tích 207,4 m2 thuộc Thửa đất số 206, Tờ bản đồ số 35, Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S; Buộc bà H2 phải tháo dỡ, di dời vật kiến trúc trên đất và hoàn trả diện tích này cho ông M, bà H1;
- Hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà L3 ngày 16/12/2008, ngày 04/3/2011; Hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đinh Gia H ngày 25/12/2013 và ngày 23/01/2014 đối với Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206.
Trong đơn phản tố và lời khai tiếp theo của bị đơn bà Ngô Thị Diệu H2 cùng người đại diện hợp pháp của bà H2 trình bày:
Vào ngày 12/12/1995, cụ Mai Thị T10 lập hợp đồng (có con của cụ T10 là bà Ngô Thị L4 đại diện ký tên) cho vợ chồng bà H2 thuê đất xây cất quán nước giải khát, thời hạn 03 năm đến ngày 12/12/1998. Ngày 25/12/1998 tái lập hợp đồng thuê đất thời hạn 01 năm. Ngày 01/01/2000 tái lập hợp đồng thuê đất thời hạn 03 năm. Ngày 12/12/2008 tái lập hợp đồng thuê đất thời hạn 10 năm, hết hạn ngày 11/12/2018. Quá trình thuê đất, bà H2 đã tôn tạo mặt bằng và xây dựng quán nước giải khát và nhà ở, phòng cho thuê trọ. Gia đình bà H2 (có các con là Lê Thành T, Lê Thành S, Trần Thúy L) đã đăng ký hộ khẩu thường trú tại đất thuê.
Bà H2 không biết bà L3 chuyển nhượng đất cho người khác và ông H thế chấp đất cho Ngân hàng NCB.
Bà H2 không đồng ý khởi kiện của ông H, không đồng ý yêu cầu độc lập của Ngân hàng NCB và bà yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206 giữa ông H với Ngân hàng NCB. Trường hợp Tòa án công nhận đất cho ông M, bà H1 hoặc ông H thì bà yêu cầu người được Tòa án công nhận đất phải hoàn trả giá trị vật kiến trúc lại cho bà và bà rút yêu cầu bồi thường với số tiền 790.000.000 đồng;
Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 08/5/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng NCB do người đại diện hợp pháp trình bày:
Ông Đinh Gia H vay của Ngân hàng NCB các hợp đồng tín dụng sau đây:
1. Hợp đồng tín dụng số 014/14/HĐTD/115-AG ngày 27/5/2014 vay 6.000.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng tính từ ngày giải ngân, lãi suất trong hạn 13%/năm áp dụng trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó 03 tháng thay đổi mức lãi suất một lần bằng lãi suất huy động vốn, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ông H đã nhận 6.000.000.000 đồng và đã trả vốn gốc 1.062.500.000 đồng, tính đến ngày 24/4/2017 còn nợ vốn là 4.937.500.000 đồng.
2. Hợp đồng tín dụng số 045/15/HĐTD/115-11 ngày 04/6/2015 vay 1.800.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng tính từ ngày giải ngân, lãi suất trong hạn 08%/năm áp dụng trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó 03 tháng thay đổi mức lãi suất một lần bằng lãi suất huy động vốn, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ông H đã nhận 1.800.000.000 đồng và đã trả vốn gốc 93.750.000 đồng, tính đến ngày 24/4/2017 còn nợ vốn là 1.706.250.000 đồng.
3. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 020/14/HĐSDT/115-AG ngày 16/6/2014 với hạn mức thẻ 200.000.000 đồng, lãi suất vay theo quy định của NCB, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ông H đã nhận 199.661.322 đồng, tính đến ngày 24/4/2017 còn nợ vốn là 199.661.322 đồng.
Tài sản bảo đảm cho 03 hợp đồng vay nêu trên là quyền sử dụng diện tích 405,7 m2 đất thuộc Thửa đất số 193 và diện tích 207,4 m2 đất thuộc Thửa đất số 206 theo 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H đứng tên, có lập 02 hợp đồng thế chấp tài sản ngày 27/5/2014, ngày 16/6/2015 và 01 Phụ lục hợp đồng ngày 04/6/2015.
Ngân hàng NCB có yêu cầu độc lập đòi ông H trả vốn là 6.843.411.322 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 24/4/2017 là 1.365.580.122 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ. Yêu cầu được duy trì các hợp đồng thế chấp tài sản của ông H để đảm bảo thi hành án; Không đồng ý yêu cầu phản tố của ông M, bà H1, bà H2.
Theo đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lão Việt P trình bày: Ngày 25/7/2013, ông lập hợp đồng cùng với ông H góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 02 diện tích đất (nay có tranh chấp), ông đã đưa cho ông H 2.500.000.000 đồng, thỏa thuận để cho ông H đứng tên 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông H phải giao trả cho ông P số tiền hùn là 2.500.000.000 đồng nhưng đến nay ông H vẫn chưa trả. Ngày 04/9/2013, ông cho ông H vay 100.000.000 đồng (có biên nhận nợ) để trả lãi ngân hàng. Ông P có yêu cầu độc lập đòi ông H phải trả cho ông vốn 2.600.000.000 đồng và tiền lãi hợp đồng góp vốn kể từ ngày 25/7/2013 và tiền lãi vay kể từ ngày 04/9/2013 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất do pháp luật quy định.
Theo đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Phước H5 trình bày: Bà Hồ Thị Kim H9 và ông Nguyễn Hồng V4 có chuyển nhượng 02 diện tích đất (nay có tranh chấp) cho ông Nguyễn Phước H5, ông Đinh Gia H và ông Bạch Thành M1. Sau đó ông H5 và ông M1 thỏa thuận chuyển quyền sử dụng cho ông H đứng tên 02 diện tích đất nhưng ông H phải trả cho ông H5 2.700.000.000 đồng. Ngoài ra, ông H5 còn vay của ông H5 900.000.000 đồng để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Ông H5 có yêu cầu độc lập đòi ông H phải trả 3.600.000.000 đồng và tiền lãi nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông H5 rút toàn bộ yêu cầu độc lập này (bút lục 576).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Ngô Hồng X trình bày: Anh là con của ông M, bà H1, đồng ý theo ý kiến của cha mẹ anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các anh chị: Lê Thành T, Lê Thành S, Trần Thúy L đều trình bày: Các anh chị là con, là dâu của bà Ngô Thị Diệu H2, đồng ý theo ý kiến của bà H2.
Tại Công văn số 800/UBND-NC ngày 28/3/2018 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc (bút lục số 787) trình bày: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị L3 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đinh Gia H do chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 02 diện tích đất nêu trên là đúng trình tự, thủ tục luật định. Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc đề nghị được vắng mặt tại Tòa án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đều không gửi văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng;
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:
“Căn cứ vào khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 157, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 122, Điều 127, Điều 128, khoản 5 Điều 170, Điều 245 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 15, Điều 463, khoản 1, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 504, khoản 2 Điều 510 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3, khoản 4 Điều 49, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 50 Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 3, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Gia H về yêu cầu ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và bà Ngô Thị Diệu H2 di dời nhà và trả đất.
2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1 về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất tại Tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang diện tích 202,85 m2 đất thuộc thửa số 193 và diện tích 207,4 m2 đất thuộc thửa số 206; về yêu cầu bà Ngô Thị Diệu H2 di dời nhà và trả đất;
3. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị Diệu H2 về yêu cầu bồi thường thiệt hại 790.000.000 đồng; về yêu cầu trả giá trị nhà và vật kiến trúc trên đất.
4. Đình chỉ xét xử yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Phước H5 về yêu cầu ông Đinh Gia H trả số tiền vốn gốc 3.600.000.000 đồng và tiền lãi.
5. Chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1 về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Đinh Gia H đứng tên diện tích 405,7 m2 đất thuộc thửa số 193 và diện tích 207,4 m2 đất thuộc thửa số 206;
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04800 ngày 25/12/2013, diện tích 405,7 m2 đất thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 35; số CH04824 ngày 23/01/2014, diện tích 207,4 m2 đất thuộc thửa số 206, tờ bản đồ số 35 do Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang cấp cho ông Đinh Gia H;
6. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị Diệu H2 về yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng diện tích 405,7 m2 thuộc thửa 193 và diện tích 207,4 m2 thuộc thửa 206 giữa ông Đinh Gia H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D theo hai hợp đồng thế chấp tài sản ngày 27/5/2014 và ngày 16/6/2015 và Phụ lục hợp đồng ngày 04/6/2015.
Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng diện tích 405,7 m2 thuộc thửa 193, tờ bản đồ số 35 và diện tích 207,4 m2 thuộc thửa 206, tờ bản đồ số 35 giữa ông Đinh Gia H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D là vô hiệu.
7. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Lão Việt P về yêu cầu ông Đinh Gia H trả tiền vay và tiền góp vốn.
Buộc ông Đinh Gia H có nghĩa vụ trả cho ông Lão Việt P số tiền 5.241.667.000 đồng (trong đó: Vốn gốc là 2.600.000.000 đồng, lãi là 2.641.667.000 đồng);
8. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D về hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng;
Buộc ông Đinh Gia H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D số tiền 22.464.209.950 đồng (trong đó: Vốn gốc là 6.843.411.322 đồng, lãi và các loại phí tính đến ngày 21/9/2023 là 15.620.798.628 đồng);
Kể từ sau ngày 21/9/2023, ông Đinh Gia H còn phải chịu lãi và các loại phí đối với khoản nợ chưa trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 014/14/HĐTD/115-AG ngày 27/5/2014, Hợp đồng tín dụng số 045/15/HĐTD/115-11 ngày 04/6/2015 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 020/14/HĐSDT/115-AG ngày 16/6/2014 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D với ông Đinh Gia H tương ứng với thời gian chậm trả đến khi trả xong nợ.
9. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D về yêu cầu duy trì hai hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 27/5/2014, ngày 16/6/2015 và 01 Phụ lục hợp đồng ngày 04/6/2015 giữa ông Đinh Gia H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D”.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc; về án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/9/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D có đơn kháng cáo yêu cầu sửa một phần Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D về yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ông Đinh Gia H với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D. Trường hợp ông Đinh Gia H không thanh toán nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là diện tích 405,7 m2 thuộc thửa 193 và diện tích 207,4 m2 thuộc thửa 206, tờ bản đồ số 35 phường Núi S, thành phố Châu Đốc để thu hồi nợ vay.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng NCB giữ nguyên kháng cáo yêu cầu được duy trì hai hợp đồng thế chấp và phụ lục hợp đồng thế chấp giữa ông Đinh Gia H với Ngân hàng NCB. Trường hợp ông H không trả được nợ thì Ngân hàng NCB có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật, vì ông Đinh Gia H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đã được Nhà nước công nhận ông H là chủ sử dụng Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206, nên ông H có quyền thế chấp đất cho Ngân hàng để vay vốn, hợp đồng thế chấp cũng đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Cụ T10 đã có di chúc cho bà L3 được hưởng phần đất này, các anh chị em của bà L3 cũng đã ký giấy đồng ý cho bà L3 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L3 là đúng quy định của pháp luật. Bà L3 đã nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng Bản án sơ thẩm xử thì không buộc bà L3 phải chịu trách nhiệm gì là không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi của người nhận chuyển nhượng đất của bà L3. Ngân hàng NCB không có yêu cầu gì đối với nhà và vật kiến trúc của ông M, bà H1 và bà H2, khi nào cần phải xử lý tài sản thế chấp thì các bên sẽ thỏa thuận xử lý sau.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng NCB đề nghị xem xét Tòa án sơ thẩm đã nhận định và xét xử thừa kế theo pháp luật, nhưng đến phiên tòa phúc thẩm mới xuất hiện di chúc của cụ T10, nên có sự thay đổi, phải là thừa kế theo di chúc. Di chúc ngày 25/12/1995 của cụ T10 được Ủy ban nhân dân xã xác nhận ngày 28/12/2015, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều: 653, 655, 656, 660 Bộ luật dân sự năm 1995; đồng thời, các anh chị em của ông M, bà L3 cũng đều ký giấy đồng ý cho bà L3 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L3 là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, ông Đinh Gia H là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của những người đã nhận chuyển nhượng đất của bà L3 và ông H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp. Các hợp đồng thế chấp giữa ông H với Ngân hàng NCB được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật, là hợp pháp nên đề nghị chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng NCB.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và anh Ngô Hồng X không đồng ý yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng NCB, vì căn nhà của vợ chồng bà H1, ông M trên Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206 là do được cụ H10, cụ T10 tặng cho theo Tờ cho đất năm 1993, còn phần đất mà ông M ký giấy ở nhờ đất của bà L3 là ở vị trí mà bà H1 đã được Nhà nước cất nhà tình nghĩa, không phải là căn nhà của ông M, bà H1 trên Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206. Di chúc của cụ T10 chỉ có 7/9 người con của cụ T10 ký tên, ông M không có ký tên và lúc này cụ H10 đã chết; Tờ tự thuận cho bà L3 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không có đủ các anh chị em của bà L10 ký tên. Do đó, Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L3 Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206 là không đúng quy định của pháp luật. Ông M, bà H1 có nhà ở trên đất từ năm 1993 và nhiều cây cổ thụ, nhưng khi nhận thế chấp đất thì Ngân hàng NCB không hỏi ý kiến của ông M, bà H1.
Bà Trần Thị Liên H3 trình bày bà H2 đã thuê đất của cụ T10 và bà H2 cất nhà ở, trong nhà còn có các con cháu của bà H2 đang ở từ năm 1985 đến nay là trên 30 năm. Nếu Tòa giải quyết đất của ông H thì đề nghị Ngân hàng thỏa thuận cho bà H2 có chỗ ở, còn nếu Tòa án giải quyết đất của gia đình ông M, bà H1 thì cũng xem xét hoàn cảnh chỗ ở của bà H1.
Bà Ngô Thị Diệu H1 trình bày bên nào được quyền sử dụng đất mà mua cho gia đình bà một chỗ ở khác thì bà sẽ di dời đi ngay lập tức và không đòi hỏi gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến Hội đồng xét xử phúc thẩm và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Đơn kháng cáo hợp lệ; về nội dung do tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay có xuất hiện tình tiết mới là Tờ di chúc của cụ T10, nên đề nghị hủy Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Phiên tòa được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, các đương sự vắng mặt đều là những người không có kháng cáo và sự vắng mặt của họ không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, việc xét xử phúc thẩm vẫn được tiến hành.
[2] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và Bản Trích đo hiện trạng khu đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đo đạc nhà đất Thuận Phát lập ngày 12/9/2022 thể hiện các bên đương sự tranh chấp Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2 và Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2 cùng Tờ bản đồ số 35 xã Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Trên đất hiện có căn nhà của ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và căn nhà của bà Ngô Thị Diệu H2.
Theo Chứng thư thẩm định giá số 145 BAG/2023/CT.ĐA ngày 20/9/2023 của Công ty Cổ phần thẩm định giá Đông Á thì toàn bộ nhà của ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 có giá trị còn lại là 117.195.780 đồng; Toàn bộ nhà của bà Ngô Thị Diệu H2 có giá trị còn lại là 373.785.340 đồng;
[3] Theo Trích lục địa bộ ngày 18/3/1989 của Ban quản lý ruộng đất tỉnh An Giang thì nguồn gốc Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2 và Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2 cùng Tờ bản đồ số 35 xã Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang là của cố Ngô Văn N1 theo Bằng khoán số 131, lô số 104 và Bằng khoán số 227, lô số 222 cùng Tờ bản đồ số 02. Theo Tờ cho đứt quyền sử dụng đất tháng 11/1993 thì cụ Ngô Văn H10 và Mai Thị T10 được thừa kế các phần đất trên của cố N1.
Sau giải phóng, Nhà nước mượn một phần diện tích trên để làm Cửa hàng “Bông Điệp”. Cụ H10 chết năm 1994. Ông Ngô Văn M bà bà Ngô Thị L3 đại diện cho gia đình cụ T10 xin lại thì Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 283/QĐ.UB ngày 14/4/1995 tháo dỡ Cửa hàng “Bông Điệp” trả đất lại cho gia đình ông M, bà L diện tích đất trên. Vào thời điểm này, cụ T10 vẫn còn sống, đồng thời nguồn gốc đất không phải của ông M, bà L3 mà ông M, bà L3 chỉ là đại diện cho gia đình cụ T10 xin lại đất. Theo Công văn số 83/UBND-ĐCXD ngày 11/9/2015 của Ủy ban nhân dân phường Núi S: “Về diện tích 405,7 m2 đất thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 35 và diện tích 207,4 m2 đất thuộc thửa số 206, tờ bản đồ số 35, cùng tọa lạc tổ 17, khóm Vĩnh T 1, phường Núi S, thành phố Châu Đốc có nguồn gốc là của bà Mai Thị T10; sau năm 1975, Nhà nước làm cửa hàng ăn uống Bông Điệp; gia đình bà T10 có đơn khiếu nại đòi lại đất của gia đình bà T10 và được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang quyết định trả đất cho gia đình bà T10”.
Như vậy, có căn cứ để xác định Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang hoàn trả Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2 và Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2 cùng Tờ bản đồ số 35 xã Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang cho gia đình cụ T10, không phải là trả cho ông M, bà L3.
[4] Cụ Ngô Văn H10 và Mai Thị T10 có 09 người con chung, gồm 04 người còn sống là: Ngô Thị Đ2, Ngô Văn N, Ngô Văn M, Ngô Thị L3 và 05 người đã chết gồm:
- Ngô Thị T11 (chết – chồng là Trịnh Văn Đ3 đã chết, các con gồm: Trịnh Quốc T12 đã chết không vợ con; Trịnh Quốc Đ, sinh năm 1957; Trịnh Quốc Đ1, sinh năm 1959; Trịnh Thị G đã chết không chồng con; Trịnh Thị Hồng V1; Trịnh Hoàng M2; Trịnh Thị Diệu T4 và Trịnh Quốc T3);
- Ngô Thị C3 (C3) (chết – chồng là Lê Văn T13 đã chết, các con gồm: Lê Thị L1, Lê Thị C, Lê Thị B, Lê Thị T5, Lê Văn T9);
- Ngô Văn Đ4 (chết – vợ là Trà Thị K2 đã chết và vợ là Lê Thị Mỹ L2, các con gồm: Ngô Văn L5 đã chết, Ngô Thị Họa M3, Ngô Trà M4, Ngô Tuấn K, Ngô Thị Diệu H6, Ngô Thị Diệu E, Ngô Diệu H7, Ngô Thị Ngọc C1, Ngô Thị Trúc M5);
- Ngô Thị L4 (chết – chồng là Lê Văn Đ5 đã chết, các con gồm: Lê Thanh V3, Lê Thị D);
- Ngô Văn N1 (N1) (chết – vợ là Trần Thị X1, các con gồm: Ngô Thị Diệu H8, Ngô Quốc V2, Ngô Thị C2, Ngô Quốc P1, Ngô Thị Diệu H14 (chết – chồng là Nguyễn Thành S1, con là Ngô Thị Diệu T6), Ngô Quốc D1 (chết – vợ là Nguyễn Thị K1, con là Ngô Quốc T7 và Ngô Thị Ngọc T8));
[5] Tại điểm b khoản 1 Điều 287 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự được quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ sau đây trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm.” Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Ngân hàng NCB nộp bản sao có công chứng Di chúc ngày 25/12/1995 của cụ Mai Thị T10. Bà Nguyễn Thị H1 và anh Ngô Hồng X vẫn thừa nhận cụ T10 lập di chúc, nhưng có ý kiến là di chúc của cụ T10 không có đủ các con của cụ H10, cụ T10 ký tên trong di chúc (còn thiếu chữ ký của bà Ngô Thị T11 do đã chết và thiếu chữ ký của ông Ngô Văn M). Mặt khác, đương sự đã khởi kiện vụ án đã rất lâu, từ tháng 5 năm 2015, việc hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án, nên không nhất thiết phải hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại sơ thẩm.
[6] Ngày 25/12/1995, cụ Mai Thị T10 lập Tờ di chúc, có các con của cụ T10 ký tên gồm: Ngô Văn Đ4, Ngô Văn N1 (N1), Ngô Văn N, Ngô Thị C3 (C3), Ngô Thị L4, Ngô Thị Đ2, Ngô Thị L3, có các nhân chứng trong thân tộc gồm:
Ngô Văn Đội, Ngô Văn Lật, Ngô Xuân Liếng, Ngô Bửu Vinh chứng kiến và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tế xác nhận ngày 28/12/1995, có nội dung: “Người hưởng di sản là Ngô Thị L3, sinh năm 1961 … di sản cụ thể là: Một căn nhà có diện tích 208 mét vuông …. Đất thổ cư 352 mét vuông (Rộng 11,0 m, Dài 32 m) đối diện Lăng Thoại Ngọc H Núi S … (theo quyết định số 283/QĐ- UB ngày 14/4/1995 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại)…”.
Năm 1997 cụ T10 chết.
Ngày 08/9/1999, các con của cụ T10, cụ H10 gồm: Ngô Thị C3 (C3), Ngô Văn Đ, Ngô Thị L4, Ngô Thị Đ2, Ngô Văn N1 (N1), Ngô Văn N, Ngô Văn M lập Tờ tự thuận, được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tế xác nhận ngày 20/10/1999 (bút lục 1419), có nội dung: “Nay anh em chúng tôi làm tờ tự thuận cho em chúng tôi là Ngô Thị L3 đứng tên quyền sử dụng trên phần đất nói trên vì em chúng tôi đang ở phủ thờ để lo hương khói thờ cúng ông bà…”.
Như vậy, Di chúc ngày 25/12/1995 của cụ Mai Thị T10 đã thể hiện cụ T10 và các thừa kế của cụ H10, cụ T10 cũng đồng ý việc cụ T10 lập di chúc tặng cho bà Ngô Thị L3 phần đất được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang giao trả theo Quyết định số 283/QĐ-UB ngày 14/4/1995; đồng thời, theo Tờ tự thuận ngày 08/9/1999 của các thừa kế của cụ H10, cụ T10 cũng đồng ý cho bà Ngô Thị L3 đứng tên quyền sử dụng đất.
[7] Tuy tại thời điểm cụ T10 lập di chúc (ngày 25/12/1995) thì cụ H10 và bà Ngô Thị T11 đã chết, nhưng đã có 7/9 người thừa kế của cụ H10 ký tên đồng ý (còn thiếu ông Ngô Văn M và người thừa kế của bà Ngô Thị T11), nhưng đến khi lập Tờ tự thuận ngày 08/9/1999 thì ông Ngô Văn M đồng ý cho bà L3 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng tỏ ông M cũng đồng ý với việc cụ T10 tặng cho đất bà L3. Đối với các thừa kế của bà Ngô Thị T11 đều cư trú tại phường Núi S (nơi có đất tranh chấp), mặc dù Ủy ban nhân dân đã niêm yết hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L3 nhưng không ai phản đối; đồng thời trong suốt quá trình tố tụng từ năm 2015 đến nay, các thừa kế của bà Ngô Thị T11 cũng đều không có ý kiến hay yêu cầu gì. Do đó, theo quy định tại Điều 662 Bộ luật dân sự năm 2015, trong trường hợp các thừa kế của bà Ngô Thị T11 có yêu cầu, thì bà Ngô Thị L3 có trách nhiệm thanh toán cho các thừa kế của bà Ngô Thị T11 một khoản tiền tương ứng với phần thừa kế của họ được hưởng di sản của cố H10.
[8] Ngày 12/8/2008, bà Ngô Thị L3 có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2. Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc tiến hành niêm yết công khai hồ sơ đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 29/10/2008 đến hết ngày 15/11/2008, kết thúc niêm yết theo Biên bản số 103/BB-UBND ngày 20/11/2008 nhưng không có ai tranh chấp, nên Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đ cấp cho bà Ngô Thị L3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.02943fE ngày 16/12/2008 đối với Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2.
Ngày 08/10/2010, bà Ngô Thị L3 có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2. Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đ tiến hành niêm yết công khai hồ sơ đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 17/12/2010 đến hết ngày 31/12/2010, kết thúc niêm yết theo Biên bản số 08/BB-UBND ngày 10/02/2011 nhưng không có ai tranh chấp, nên Ủy ban nhân dân thị xã Châu Đ cấp cho bà Ngô Thị L3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03708fE ngày 04/3/2011 đối với Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2.
Bà Ngô Thị L3 kê khai đăng ký quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206 trên cơ sở được cụ T10 và các thừa kế của cụ H10, cụ T10 đồng ý với việc cụ T10 lập di chúc tặng cho đất; đồng thời sau khi cụ T10 chết thì các thừa kế của cụ H10, cụ T10 cũng đã lập Tờ tự thuận đồng ý cho bà L3 đứng tên quyền sử dụng đất như đã phân tích tại mục [6] nêu trên; Các thừa kế của cụ H10, cụ T10 đều đang cư trú tại địa phương ( phường Núi S), Ủy ban nhân dân đã niêm yết công khai hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L3 nhưng không ai phản đối hay tranh chấp, kể cả ông Ngô Văn M là người đang sinh sống trên phần đất mà bà L3 xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng không có ý kiến. Do đó, tại Công văn số 800/UBND-NC ngày 28/3/2018, Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc đã xác định việc Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc đã cấp cho bà Ngô Thị L3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: H.02943fE ngày 16/12/2008 đối với Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH 03708fE ngày 04/3/2011 đối với Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2, cùng Tờ bản đồ số 35, phường Núi S, thị xã Châu Đ, tỉnh An Giang đúng quy định của pháp luật, là có cơ sở.
[9] Bà Ngô Thị L3 là chủ sử dụng hợp pháp và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Thửa đất số 193 và thửa đất số 206, nên các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng hai thửa đất trên giữa các đương sự: Ngô Thị L3, Nguyễn Hồng V4, Hồ Thị Kim H9, Bạch Thành M1, Nguyễn Phước H5, Đinh Gia H đều hợp pháp theo quy định tại Điều 697 và Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005 và hiện nay các đương sự này cũng đều không có tranh chấp với nhau trong việc chuyển nhượng hai thửa đất này. Người nhận chuyển nhượng cuối cùng là ông Đinh Gia H cũng đã được Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH 04800 ngày 25/12/2013 đối với Thửa đất số 193, diện tích 405,7 m2 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH 04824 ngày 23/01/2014 đối với Thửa đất số 206, diện tích 207,4 m2, cùng Tờ bản đồ số 35 xã Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang là có căn cứ. Bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1, hủy hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên của ông Đinh Gia H là không phù hợp.
[10] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 014/14/HĐTC- BĐS/115-AG ngày 27/5/2014, Phụ lục ngày 04/6/2014 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung ngày 16/6/2014 giữa bên thế chấp là ông Đinh Gia H với bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D), xét thấy:
[10.1] Ông Đinh Gia H là người đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206 nên ông H có quyền ký Hợp đồng số 014/14/HĐTC-BĐS/115-AG ngày 27/5/2014 thế chấp Thửa đất số 193 và Thửa đất số 206 nêu trên để vay tiền của Ngân hàng NCB. Hợp đồng thế chấp đã đăng ký giao dịch bảo đảm và được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Châu Đốc chứng nhận ngày 27/5/2014 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[10.2] Theo quy định tại mục 4 khoản 19 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm:“Trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất theo như thỏa thuận giữa người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có quy định khác. Quyền và nghĩa vụ giữa bên thế chấp và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người mua, người nhận chính quyền sử dụng đất”. Trong vụ án này, khi ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, mặc dù bên thế chấp (ông Đinh Gia H) và bên nhận thế chấp (Ngân hàng NCB) đều biết rõ trên hai thửa đất thế chấp có nhà của ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và nhà của bà Ngô Thị Diệu H2, nhưng vẫn thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp hai căn nhà trên đất (nhà của ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và nhà của bà Ngô Thị Diệu H2), nhưng do hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, nên theo Án lệ số 11/2017/AL thì hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực pháp luật.
Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng NCB, mà chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Diệu H2, đã tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng diện tích 405,7 m2 thuộc Thửa đất số 193 và diện tích 207,4 m2 thuộc Thửa đất số 206 giữa ông Đinh Gia H với Ngân hàng NCB theo các hợp đồng thế chấp tài sản ngày 27/5/2014 và ngày 16/6/2015 và Phụ lục hợp đồng ngày 04/6/2015, là không phù hợp.
[10.3] Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng NCB về hợp đồng tín dụng, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đối với ông Đinh Gia H, đã buộc ông Đinh Gia H phải trả cho Ngân hàng NCB tổng số tiền 22.464.209.950 đồng và tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán dứt nợ, là có căn cứ và do không có kháng cáo, kháng nghị về phần này, nên phần này đã có hiệu lực pháp luật.
[10.4] Theo quy định tại Hợp đồng thế chấp và Điều 299, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015, trong trường hợp ông Đinh Gia H không thanh toán nợ thì Ngân hàng NCB được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là diện tích 405,7 m2 thuộc thửa 193 và diện tích 207,4 m2 thuộc thửa 206, tờ bản đồ số 35 phường Núi S, thành phố Châu Đốc để thu hồi nợ vay.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015 và Án lệ số 11/2017/AL thì khi xử lý tài sản thế chấp, ông Đinh Gia H và Ngân hàng NCB phải dành cho ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và bà Ngô Thị Diệu H2 được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) diện tích đất mà trên đất có nhà ở của họ.
[11] Từ các phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng NCB, sửa một phần Bản án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ phù hợp một phần, nên chấp nhận một phần.
[12] Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 và điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại như sau:
- Ông Đinh Gia H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
- Ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1 đều phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch;
- Ngân hàng NCB không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
[13] Do được chấp nhận kháng cáo nên Ngân hàng NCB không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm;
[14] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về việc đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất Thửa đất số 193, Thửa đất số 206 và yêu cầu bà Ngô Thị Diệu H2 di dời nhà trả đất; về đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị Diệu H2 đòi bồi thường thiệt hại 790.000.000 đồng; về đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Phước H5 đối với ông Đinh Gia H; về giải quyết yêu cầu độc lập của ông Lão Việt P đối với ông Đinh Gia H; về việc bác khởi kiện của ông Đinh Gia H yêu cầu ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và bà Ngô Thị Diệu H2 di dời nhà trả đất; về việc buộc ông Đinh Gia H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D tổng số tiền 22.464.209.950 đồng và tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán dứt nợ; về chi phí tố tụng (đo đạc, thẩm định tại chỗ); về án phí dân sự sơ thẩm đối với các đương sự: Lão Việt P, Nguyễn Phước H5; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các điều: 26, 27 và 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
2. Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D; Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, như sau:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1 về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04800 ngày 25/12/2013, diện tích 405,7 m2 đất thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 35, xã (nay là phường) Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04824 ngày 23/01/2014, diện tích 207,4 m2 đất thuộc thửa số 206, tờ bản đồ số 35, xã (nay là phường) Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang do Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc cấp cho ông Đinh Gia H;
2.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị Diệu H2 về yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 014/14/HĐTC- BĐS/115-AG ngày 27/5/2014, Phụ lục ngày 04/6/2014 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung ngày 16/6/2014 giữa bên thế chấp là ông Đinh Gia H với bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D).
2.3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D về yêu cầu duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 014/14/HĐTC-BĐS/115-AG ngày 27/5/2014, Phụ lục ngày 04/6/2014 và Hợp đồng thế chấp sửa đổi bổ sung ngày 16/6/2014 giữa bên thế chấp là ông Đinh Gia H với bên nhận thế chấp là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt (nay là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D);
Trong trường hợp ông Đinh Gia H không thanh toán nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của ông Đinh Gia H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04800 ngày 25/12/2013, diện tích 405,7 m2 đất thuộc thửa số 193, tờ bản đồ số 35, xã (nay là phường) Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04824 ngày 23/01/2014, diện tích 207,4 m2 đất thuộc thửa số 206, tờ bản đồ số 35, xã (nay là phường) Núi S, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang do Ủy ban nhân dân thành phố Châu Đốc cấp cho ông Đinh Gia Huy.
2.4. Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp, buộc ông Đinh Gia H và Ngân hàng NCB phải dành cho ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và bà Ngô Thị Diệu H2 được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) diện tích đất mà trên đất có nhà ở của ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và bà Ngô Thị Diệu H2.
2.5. Án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại như sau:
2.5.1. Ông Đinh Gia H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp 47.150.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu một trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0001523 ngày 19/6/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
2.5.2. Ông Ngô Văn M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) và được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0001759 ngày 05/11/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
2.5.3. Bà Nguyễn Thị H1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) và được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0001758 ngày 05/11/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
2.5.4. Ngân hàng NCB không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp 58.104.500 đồng (Năm mươi tám triệu một trăm lẻ bốn ngàn năm trăm đồng) theo Biên lai thu số 0007437 ngày 22/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0000460 ngày 16/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về việc đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu phản tố của ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất Thửa đất số 193, Thửa đất số 206 và yêu cầu bà Ngô Thị Diệu H2 di dời nhà trả đất; về đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà Ngô Thị Diệu H2 đòi bồi thường thiệt hại 790.000.000 đồng; về đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Phước H5 đối với ông Đinh Gia H; về giải quyết yêu cầu độc lập của ông Lão Việt P đối với ông Đinh Gia H; về việc bác khởi kiện của ông Đinh Gia H yêu cầu ông Ngô Văn M, bà Nguyễn Thị H1 và bà Ngô Thị Diệu H2 di dời nhà trả đất; về việc buộc ông Đinh Gia H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc D tổng số tiền 22.464.209.950 đồng và tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán dứt nợ; về chi phí tố tụng (đo đạc, thẩm định tại chỗ); về án phí dân sự sơ thẩm đối với các đương sự: Lão Việt P, Nguyễn Phước H5; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tranh chấp QSDĐ, hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng góp vốn, hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 776/2024/DS-PT
Số hiệu: | 776/2024/DS-PT |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân cấp cao |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Ngày ban hành: | 17/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về