TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 12/2024/DS-ST NGÀY 31/01/2024 VỀ TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 131/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp phát sinh từ HĐ thuê nhà” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXX-ST ngày 10/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐHPT ngày 24/01/2024 giữa:
Nguyên đơn: Ông Bùi Xuân T - sinh 1957. Địa chỉ: Số C P, phường N, quận B, Hà Nội.
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ. Trụ sở: Tầng F, tòa nhà M, số F N, phường C, quận N, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật:
+ Ông Phạm Biên C, sinh 1982. Địa chỉ thường trú: số B, ngách H ngõ T, phường T, quận Đ, Hà Nội.
+ Ông Nguyễn Thái B, sinh 1984. Địa chỉ thường trú: Thừa 131, tờ BĐ số 16, TDP số D, phường N, quận H, Hà Nội.
Nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn: ông Bùi Xuân T trình bày:
Ngày 01/6/2016, Công ty CP Đ có ký Hợp đồng thuê nhà với tôi nội dung cụ thể: Công ty CP Đ thuê căn nhà tại địa chỉ số C, phố P, phường N, quận B, Hà Nội với giá thuê 46.000.000 đồng/tháng. Đến ngày 12/10/2020, hai bên thống nhất giá thuê là 55.000.000 đồng/tháng. Sau đó Công ty CP Đ1 hủy Hợp đồng thuê nhà và còn nợ của tôi tiền thuê nhà 03 tháng: 150.000.000 đồng. Sau khi trừ đi khoản tiền đặt cọc là 46.000.000 đồng, Công ty Đ có xin tôi giảm 64.000.000 đồng và cam kết sẽ thanh toán 40.000.000 đồng vào ngày 31/3/2021. Tuy nhiên đến nay Công ty vẫn không trả được cho tôi số tiền 40.000.000 đồng. Nay tôi đề nghị Công ty Đ phải thanh toán cho tôi số tiền thuê nhà còn nợ là 40.000.000 đồng và lãi suất chậm trả.
Ngày 03/01/2024, ông T có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện: Ông xin rút yêu cầu tính lãi suất chậm trả và chỉ yêu cầu Công ty Đ phải trả ông T số tiền thuê nhà chưa thanh toán là 40.000.000 đồng.
Bị đơn - Công ty CP Đ: Toà án đã triệu tập Công ty CP Đ lên Toà án để giải quyết tuy nhiên Công ty CP Đ không đến. Vì vậy Tòa án không lấy được lời khai của Công ty CP Đ.
Tại phiên toà:
- Ông Bùi Xuân T yêu cầu Công ty CP Đ phải trả ông T số tiền thuê nhà chưa thanh toán là 40.000.000 đồng và rút yêu cầu phần lãi suất chậm trả.
- Công ty CP Đ vắng mặt vì vậy không có ý kiến tại phiên toà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến: Việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, HDXX tại phiên tòa sơ thẩm cũng như việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 472, 473, 481 Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc 40.000.000 đồng cho ông Bùi Xuân T theo quy định. Đình chỉ đối với phần lãi chậm trả nguyên đơn rút trước phiên toà. Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền: Ông Bùi Xuân T khởi kiện đối với Công ty cổ phần Đ; Địa chỉ: Tầng F, tòa nhà M, số F N, quận N, Hà Nội. Thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm giải quyết, phù hợp với quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của ông Bùi Xuân T đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã tiến hành đầy đủ thủ tục tố tụng đối với Công ty CP Đ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 31/3/2021 ông T ký thanh lý Hợp đồng với Công ty Đ xác nhận đến ngày 30/5/2021 Công ty Đ phải trả cho ông T 40.000.000 đồng. Đến ngày 16/2/2023 ông T nộp đơn khởi kiện tới Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm. Như vậy vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 Bộ luật dân sự 2015.
Quan hệ pháp luật: Các bên tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng dân sự thuộc quan hệ “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng thuê nhà” theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Ngày 01/6/2016, ông Bùi Xuân T và Công ty CP Đ có ký Hợp đồng thuê nhà với nội dung: ông Bùi Xuân T cho Công ty CP Đ thuê căn nhà tại địa chỉ: Số C P, phường N, quận B, Hà Nội, diện tích sử dụng thực tế 110 m[2] để làm văn phòng kinh doanh. Thời hạn thuê: 05 năm (từ ngày 01/6/2016 đến ngày 01/6/2021). Giá thuê không bao gồm thuế: 55.000.000 đồng/tháng, đặt cọc 01 tháng tiền nhà (tương ứng 55.000.000 đồng). Phương thức thanh toán: 03 tháng/lần.
Đến ngày 31/3/2021, ông Bùi Xuân T và Công ty CP Đ cùng ký Biên bản thanh lý Hợp đồng số 31032021/HĐTN/03PHI với nội dung: Hai bên cùng đồng ý chấm dứt thời hạn thuê kể từ ngày 31/3/2021. Số tiền Công ty CP Đ phải trả cho ông Bùi Xuân T là 40.000.000 đồng, được hoàn trả vào ngày 30/5/2021. Hai bên cam kết không tranh chấp hay khiếu nại gì về sau. Kể từ ngày hợp đồng thanh lý được ký kết và có chứng nhận của hai bên, hợp đồng thuê nhà không còn giá trị.
Xét Hợp đồng thuê nhà giữa ông Bùi Xuân T và Công ty CP Đ, HĐXX nhận thấy: hình thức, nội dung của HĐ thuê nhà do các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên HĐ thuê nhà nêu trên là hợp pháp.
Hai bên đã thống nhất ký biên bản thanh lý Hợp đồng số 31032021/HĐTN/03PHI ngày 31/3/2021 và cùng thoả thuận nội dung: Số tiền Công ty CP Đ phải trả cho ông Bùi Xuân T là 40.000.000 đồng, được hoàn trả vào ngày 30/5/2021. Tuy nhiên, Công ty CP Đ chưa thanh toán số tiền trên cho ông Bùi Xuân T. Do Công ty CP Đ vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên ông Bùi Xuân T khởi kiện yêu cầu Công ty CP Đ thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng thuê nhà và biên bản thanh lý hợp đồng nêu trên đã ký kết là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông Bùi Xuân T có đơn xin rút yêu cầu đối với phần lãi chậm thanh toán vì vậy cần đình chỉ yêu cầu về phần lãi chậm thanh toán đối với nguyên đơn.
Ông Bùi Xuân T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Công ty CP Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Điều 472, 473, 474, 481 Bộ luật dân sự 2015;
- Khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 147; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Xuân T đối với Công ty cổ phần Đ về việc: “Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng thuê nhà”.
2/ Xác nhận đến hết ngày 31/01/2024, Công ty cổ phần Đ còn nợ ông Bùi Xuân T số tiền thuê nhà chưa thanh toán là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) theo Hợp đồng thuê nhà ngày 01/6/2016 và Biên bản thanh lý Hợp đồng số 31032021/HĐTN/03PHI ngày 31/3/2021.
3/ Buộc Công ty cổ phần Đ phải chịu trách nhiệm thanh toán số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) cho ông Bùi Xuân T.
Đình chỉ yêu cầu về phần lãi chậm trả của ông Bùi Xuân T.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4/ Về án phí: Công ty cổ phần Đ phải chịu 2.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê nhà số 12/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 12/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 31/01/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về