Bản án về tranh chấp ly hôn số 94/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 94/2021/HNGĐ-ST NGÀY 12/10/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 12 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2021, về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2021/QĐXX-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H – sinh ngày: 06/10/1971 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt ngày 16/5/2021).

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn G – sinh năm: 1965 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt ngày 17/9/2021).

Cùng địa chỉ: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Lê Thị H có đơn xin vắng mặt nhƣng tại đơn khởi kiện ngày 09/3/2021, bảng khai ý kiến ngày 16/5/2021 chị Lê Thị H trình bày:

- Về mối quan hệ hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn G do mai mối rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới năm 1989, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long vào ngày 27/9/1989. Sau ngày cưới chị và anh G sống chung gia đình cha mẹ cH. Thời gian vợ cH chung sống hạnh phúc được 25 năm đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh G thường hay đi nhậu, không quan tâm chăm sóc vợ con, đến năm 2014 thì tự ý anh G bỏ nhà đi. Chị và anh G đã không còn sống chung với nhau từ năm 2014 cho đến nay.

Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn G.

- Về con chung: Có ba người con chung tên Huỳnh Lê Trung C, sinh ngày 12/01/1991, Huỳnh Lê Diễm T, sinh ngày 05/11/1996 và Huỳnh Lê Ngọc Tuyền, sinh ngày 28/11/1999. Cháu C, T, Tuyền đã thành niên nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung gồm có:

+ Thửa 366, tờ bản đồ số 5, diện tích 2.054,1m2 loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp Cái Trôm, xã Tân Quới Trung. Do chị và anh G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Thửa 385, tờ bản đồ số 5, diện tích 543,4m2 loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc ấp Cái Trôm, xã Tân Quới Trung. Do chị và anh G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

+ Thửa 16, tờ bản đồ số 4, diện tích 2.457,1 m2 loại đất ở + đất trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp Rạch Đôi, xã Tân Quới Trung. Do anh G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay chị thay đổi yêu cầu khởi kiện về tài sản chung để chị và anh G tự thỏa thuận giải quyết chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung phaûi thu, phaûi trả: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Huỳnh Văn G có đơn xin vắng mặt nhƣng bảng khai ý kiến ngày 11/5/2021 và ngày 17/9/2021 anh Huỳnh Văn G trình bày:

- Về mối quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất theo lời trình bày của chị H về mối quan hệ hôn nhân. Nay anh đồng ý ly hôn với chị Lê Thị H.

- Về con chung: Có ba người con chung tên Huỳnh Lê Trung C, sinh ngày 12/01/1991, Huỳnh Lê Diễm T, sinh ngày 05/11/1996 và Huỳnh Lê Ngọc Tuyền, sinh ngày 28/11/1999. Cháu C, T, Tuyền đã thành niên nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh thống nhất theo lời trình bày của chị H nay chị H thay đổi ý kiến không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung mà để anh và chị H tự thỏa thuận giải quyết thì anh đồng ý.

- Về nợ chung phải thu phải trả: Anh Huỳnh Văn G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

Nguyên đơn đã nộp: Đơn khởi kiện ngày 09/3/2021, Đơn xin xác nhận giá đất; Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu (bản sao); Quyết định thành lập hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; Biên bản hòa giải xã; Đơn xin xác nhận; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản sao); Dịch vụ chuyển phát nhanh; Bảng khai ý kiến; Đơn xin vắng mặt.

Bị đơn đã nộp: Bảng khai ý kiến; Đơn xin vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay, đương sự khẳng định không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Lê Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc tranh chấp ly hôn giữa anh H và anh Huỳnh Văn G, anh G có nơi cư trú tại ấp Rạch Đôi, xã Tân Quới Trung, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Nguyên đơn chị H và bị đơn anh G có đơn xin vắng mặt không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa sơ thẩm nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị H và bị đơn anh G.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh G do mai mối rồi tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 1989 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long vào ngày 27/9/1989 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh G là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống theo chị H và anh G trình bày thì thời gian vợ cH chung sống hạnh phúc được 25 năm đến đầu năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H và anh G không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng dần phai nhạt, đến năm 2014 thì anh G tự ý bỏ nhà đi. Chị H và anh G đã không còn sống chung từ năm 2014 cho đến nay. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị H yêu cầu ly hôn với anh G, anh G đồng ý nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị H và anh G.

Về con chung: Có ba người con chung tên Huỳnh Lê Trung C, sinh ngày 12/01/1991, Huỳnh Lê Diễm T, sinh ngày 05/11/1996 và Huỳnh Lê Ngọc Tuyền, sinh ngày 28/11/1999. Cháu C, T, Tuyền đều đã thành niên chị H và anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Tại bảng khai ý kiến ngày 16/5/2021 chị H xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung đối với anh G, anh G cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị H. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung của chị H và anh G.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị H và anh G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 9, Điều 55, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Huỳnh Văn G.

Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Huỳnh Văn G có ba người con chung tên Huỳnh Lê Trung C, sinh ngày 12/01/1991, Huỳnh Lê Diễm T, sinh ngày 05/11/1996 và Huỳnh Lê Ngọc Tuyền, sinh ngày 28/11/1999. Cháu Huỳnh Lê Trung C, Huỳnh Lê Diễm T và Huỳnh Lê Ngọc Tuyền đã thành niên chị Lê Thị H và anh Huỳnh Văn G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị H xin rút lại yêu cầu chia tài sản chung đối với anh Huỳnh Văn G, anh Huỳnh Văn G cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị Lê Thị H. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung của chị Lê Thị H và anh Huỳnh Văn G.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Lê Thị H và anh Huỳnh Văn G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 9.101.000đ (Chín triệu một trăm lẻ một nghìn đồng) mà chị Lê Thị H đã nộp theo biên lai thu số N0 0008978, ngày 14/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Số tiền còn lại 8.801.000đ (Tám triệu tám trăm lẻ một nghìn đồng) hoàn trả lại cho chị Lê Thị H .

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

231
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 94/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:94/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vũng Liêm - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/10/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;