Bản án về tranh chấp ly hôn số 11/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 11/2022/HNGĐ-ST NGÀY 17/02/2022 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 17/02/2022, Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 561/2021/HNGĐ ngày 24/11/2021 về việc: “Ly hôn”  theo  Quyết  định  đưa  vụ  án  ra  xét  xử  số  06/2022/QĐXX-ST  ngày  18/01/2022,  Quyết  định  hoãn  phiên  tòa  số  08/2022/QĐXXST-HNGĐ  ngày  27/01/2022 giữa:

- Nguyên đơn: Phạm Thị Hồng C – Sinh năm: 1983  Nơi cư trú: Tổ dân phố 8 B, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Vĩnh B − Sinh năm: 1980  Nơi cư trú: Tổ dân phố 8 B, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng  mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng C trình bày: Bà và ông Trần Vĩnh B kết hôn năm 2004 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian chung sống với nhau, giữa bà và ông B thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra nhiều mâu thuẩn do tính tình không hòa hợp nhau, thường xuyên kình cãi, ông B có tính gia trưởng, thường xuyên tụ tập uống rượu cùng bạn bè, khi về nhà gây sự chửi mắng và đánh đập dẫn đến vợ chồng không hạnh phúc. Hiện nay, bà và ông B không còn chung sống với nhau. Nay cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn, tình cảm của bà dành cho ông B không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông B. Về con chung: Bà và ông B có 02 con chung là Trần Phạm Yến N– sinh ngày: 29/11/2000, Trần Phạm Yến  M – sinh ngày: 02/7/2015. Cháu  Nđã trưởng  thành, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Phạm Yến M và   không yêu cầu ông ông B cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.

* Bị đơn ông Trần Vĩnh B mặc dù đã được tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong vụ án.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực  hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Trần Vĩnh B vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên coi như tự tước mất quyền lợi của mình tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng bị đơn theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Bà Phạm Thị Hồng C được ly hôn với ông  Trần Vĩnh B. Về con chung: Giao con chung Trần Phạm Yến M – sinh ngày: 02/7/2015 cho bà C trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà C không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Bà Phạm Thị Hồng C phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về phần thủ tục tố tụng: Ông Trần Vĩnh B là bị đơn trong vụ án. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông B vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng C và ông Trần Vĩnh B tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2004 ngày 08/9/2004, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Qua các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét  xử xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng bà C, ông B không có hạnh phúc do tính tình không hòa hợp, ông B thường xuyên uống rượu, đánh đập và xúc phạm  danh dự của bà C. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và bà C đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không được. Hiện tại, bà C, ông B đã ly thân với nhau.

Ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Như vậy có đủ căn cứ xác định ông không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng không còn tin tưởng, yêu thương nhau, chăm sóc lẫn nhau, do vậy yêu cầu xin ly hôn của bà C là có cơ sở để chấp nhận.

[3] Về con chung: Tại phiên tòa, bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung: Trần Phạm Yến M – sinh ngày: 02/7/2015, Hội đồng xét xử xét thấy cháu M đang ở với bà C và hiện tại cháu còn nhỏ, cần thiết phải có sự chăm sóc của người mẹ nên cần giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và bà C không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy đây là yêu cầu phù hợp nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Bà C, ông B không yêu cầu nên không giải quyết.

[5] Về án phí: Bà C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1  Điều 232; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm  2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày  30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa bà Phạm Thị Hồng  C và ông Trần Vĩnh B.

2.  Về  con  chung:  Giao  con  chung  Trần  Phạm  Yến  M  –  sinh  ngày: 02/7/2015 cho bà Phạm Thị Hồng C trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Bà Phạm Thị Hồng C không yêu cầu ông Trần Vĩnh B cấp dưỡng nuôi con  chung. Ông B được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Hồng C và ông Trần Vĩnh B không yêu  cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9  Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại  Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Bà Phạm Thị Hồng C phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0004230 ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

310
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 11/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:11/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/02/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;