Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 158/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 158/2024/HNGĐ-ST NGÀY 20/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 403/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lương Văn T, sinh năm 2000; thường trú: Thôn Y, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;

- Bị đơn: Chị Lê Huyền T1, sinh năm 2003; thường trú: Thôn Y, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; tạm trú: Nhà trọ H, số C đường T, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện để ngày 26 tháng 7 năm 2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Lương Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn T và chị Lê Huyền T1 có thời gian tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức lễ cưới đến năm 2022 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2022 ngày 19/4/2022. Sau khi kết hôn thì chung sống tại phòng trọ tại T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp thường xuyên cãi nhau bất đồng quan điểm sống khiến hôn nhân trở nên căng thẳng, không hạnh phúc. Dù đã nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu ly hôn với chị T1.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lương Tuấn A, sinh ngày 24/6/2021. Sau khi ly hôn anh T đồng ý giao con chung cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai đề ngày 27/8/2024 và trong suốt quá trình tố tụng bị đơn chị Lê Huyền T1 trình bày: Chị T1 và anh T có thời gian tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2020, có tổ chức lễ cưới đến năm 2022 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2022 ngày 19/4/2022. Sau khi kết hôn thì chung sống tại phòng trọ tại T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không ai quan tâm đến ai, chị T1 và anh T đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay xác định tình cảm không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu ly hôn chị T1 cũng đồng ý.

Về con chung: Chị T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lương Tuấn A, sinh ngày 24/6/2021 sau khi ly hôn. Không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tiến hành ngày 16/8/2024, Hội Liên hiệp phụ nữ phường T, thành phố D cung cấp thông tin như sau: Hội liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải hôn nhân giữa anh Lương Văn T và chị Lê Huyền T1, đồng thời cũng không tiếp nhận phản ánh từ địa phương về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị và cũng không biết tình trạng chăm sóc con của anh chị như thế nào.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thống nhất tất cả vấn đề và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân gia đình 2014, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh Lương Văn T và bị đơn chị Lê Huyền T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn T và chị Lê Huyền T1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái theo giấy chứng nhận kết hôn số 24/2022 ngày 19/4/2022 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Anh T và chị T1 xác định quá trình chung sống với nhau vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, anh chị đã sống ly thân từ năm 2023. Anh T và chị T1 không thể hiện ý chí mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Chứng tỏ tình cảm vợ chồng anh chị không thể hàn gắn, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của anh Thế l có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Anh T và chị T1 khai có 01 con chung tên Lương Tuấn A, sinh ngày 24/6/2021, thống nhất giao con chung Lương Tuấn A cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Xét, cháu Tuấn A còn nhỏ nên cần sự quan tâm chăm sóc từ mẹ, trong thời gian anh chị sống ly thân cháu Tuấn A do chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng phát triển bình thường. Vì vậy, việc giao con chung cho chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn là cố căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T1 không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí: Anh Lương Văn T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con với chị Lê Huyền T1.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn T được ly hôn với chị Lê Huyền T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2022 do UBND xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái cấp ngày 19/4/2022).

1.2. Về con chung: Anh Lương Văn T giao con chung tên Lương Tuấn A, sinh ngày 24/6/2021 cho chị Lê Huyền T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T1 không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh T, chị T1 phải tạo điều kiện cho nhau trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lương Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001453 ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

42
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 158/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:158/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 20/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;