Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 89/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 89/2021/HNGĐ-ST NGÀY 31/12/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 368/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2021, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị C, sinh năm 1996 (xin vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn 3, xã B, huyện B, tỉnh P

- Bị đơn: Anh M, sinh năm 1991 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn 4, xã B, huyện B, tỉnh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/10/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị C trình bày:

Chị và anh M tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2014 đến năm 2015 đăng ký và được Uỷ ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh P cấp chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do anh M ham chơi, không chịu khó làm ăn lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả nhau, chị đã cho anh M nhiều cơ hội nhưng anh M không thay đổi nên chị về nhà mẹ đẻ để sinh sống một thời gian.

Hiện nay, chị thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị và anh M có 02 con chung là L, sinh ngày 26/11/2014. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L. Không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại biên bản hòa giải về quan hệ hôn nhân ngày 01/11/2021 anh M trình bày: Anh xác nhận anh và chị C tự nguyện chung sống từ năm 2014 đến năm 2015 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh P là đúng. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh ham chơi, nghe lời rủ rê của bạn bè chơi bời, nhậu nhẹt không lo làm ăn, chăm lo cho gia đình. Ngoài ra vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể gần gủi nói chuyện với nhau; từ tháng 7/2021 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hiện nay, anh không đồng ý ly hôn do vẫn còn thương vợ con mặc dù mâu thuẫn vợ chồng là có.

Trong thời gian chung sống anh và chị M có 01 con chung là L, sinh ngày 26/11/2014. Trường hợp Toà án giải quyết ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị Cẩm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục do hiện nay con còn nhỏ, cần ở với mẹ. Về cấp dưỡng anh và chị Cẩm tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh M tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh P cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2015, ngày 01/7/2015, nên quan hệ hôn nhân giữa chị Cẩm và anh M là hôn nhân là hợp pháp.

Chị C và anh M chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh M nghe lời rủ rê của bạn bè chơi bời, nhậu nhẹt không lo làm ăn, chăm lo cho gia đình. Ngoài ra vợ chồng không có tiếng nói chung, không gần gủi nói chuyện chia sẻ với nhau những vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Từ tháng 7/2021 vợ chồng sống ly thân cho đến nay, quá trình sống ly thân mạnh ai náy sống, không quan tâm nhau. Chị C cho rằng hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh M; Anh M cho rằng mặc dù vợ chồng có mâu thuẫn, vợ chồng có sống ly thân nhưng anh còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị C; Tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ giữa hai bên nhưng không thánh do chị C cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh M; anh M có nguyện vọng đoàn tụ gia đình nhưng không có giải pháp nào để đoàn tụ gia đình ày Tòa án tiếp tục thông báo mở phiên họp hòa giải vào các ngày 11/11/2021 và ng 2 26/11/2021 nhưng anh M không đến tham gia phiên hòa giải theo thông báo của Tòa án.

Tại phiên tòa, anh M vắng mặt, chị C có đơn xin giải quyết vắng mặt. Như vậy, thể hiện mặc dù anh M không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con nhưng anh M không có giải pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình; không tham gia phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, coi như anh M đã từ bỏ quyền chứng minh để bảo vệ ý kiến quan điểm của mình nên Tòa án không có cơ sở để chấp nhận ý kiến của anh M.

Từ những căn cứ trên thể hiện mâu thuẫn giữa chị C và anh M là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn vủa chị C là có cơ sở cần được chấp nhận.

[2] Về con chung: Chị C và anh M 01 con chung là L, sinh ngày 26/11/2014, hiện do chị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay chị C có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; anh M có ý kiến trường hợp phải ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị C chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy cần ghi nhận sự thỏa thuận của chị C và anh M.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị C và anh M không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147, 161, 218 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn C đối với bị đơn M; Xử cho chị C được ly hôn với anh M.

[2] Về con chung: Giao con chung của chị C và anh M là L, sinh ngày 26/11/2014 cho chị C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; Đồng thời có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3] Về án phí: Chị C phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000045 ngày 22/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

[5] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

10
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 89/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:89/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 31/12/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;