Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 28/2022/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 28/2022/DS-ST NGÀY 12/07/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2022/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2022/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 79/2022/QDST-DS ngày 23/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Địa chỉ: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm - Tổng Giám đốc;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh Sơn - Giám đốc Chi nhánh - An Giang. (Theo giấy ủy quyền s 3161/202/QĐ-PL, ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Tng giám đốc ngân hàng Thương mại c phần Sài Gòn Thương Tín).

Địa chỉ: Số 333 Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Trần Minh Sơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, chức vụ: Phó phòng giao dịch Tịnh Biên - Chi nhánh An Giang (Giấy ủy quyền ngày 21/01/2022).

Bị đơn: Bà Đào Thị Ngọc B, sinh năm 1989;

Nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn L, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

(Ông C có đơn xin xét xử vng mặt, bà B vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 21 tháng 01 năm 2022, bản tự khai và trong quá trình t tụng, đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyn Văn C trình bày:

Ngày 11/12/2017 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - chi nhánh An Giang - PGD Tịnh Biên (sau đây gọi tt là Ngân hàng Thương Tín) có thỏa thuận ký kết với bà Đào Thị Ngọc B 01 hợp đồng tín dụng với số: 01197 - 00071 ngày 11/12/2017.

Số tiền vay: 15.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn bán bún cá, thời hạn vay 182 ngày, lãi suất: 24% năm. Tổng vốn gc và lãi được ấn định là 16.795.000 đồng. Hình thức thanh toán là bà B trả trả góp hằng ngày số tiền góp là 92.400 đồng/182 ngày; trả kỳ cuối là 70.600 đồng.

Trong quá trình vay và thanh toán, bà Đào Thị Ngọc B trả được 13.473.900 đồng, tuy nhiên về phí Ngân hàng cũng đã nhiều lần gặp trực tiếp bà B yêu cầu thanh toán nợ nốc, lãi số tiền còn lại theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, bà B cũng đã hứa nhưng không thực hiện việc trả nợ.

Tính đến ngày 12/7/2022 bà Đào Thị Ngọc B còn nợ 3.321.100 (Ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn một trăm) đồng.

Trong đó:

Nợ gốc: 2.298.200 đồng;

Nợ lãi: 1.022.900 đồng.

Ông C yêu cầu Tòa án buộc bà Đào Thị Ngọc B trả số tiền 3.321.100 (Ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn một trăm) đồng. Trong đó bao gồm nợ gốc và nợ lãi của hợp đồng.

Bị đơn: Bà Đào Thị Ngọc B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập bà B đến tham dự phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà B vắng mặt không lý do.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:

Về t tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015.

- Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình t thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân s về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.

- Người tham gia t tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chấp hành chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đào Thị Ngọc B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương Tín số tiền còn nợ tính đến ngày 12/7/2022 là 3.321.100 (Ba triệu ba trăm hai mươi mt nghìn một trăm) đồng, trong đó bao gồm nợ gốc và nợ lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về t tụng:

Ngân hàng Thương Tín khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Đào Thị Ngọc B, bị đơn bà B cư trú thị trấn L, huyện Tịnh Biên, An Giang. Căn cứ vào các Điều 26, 35, và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đứng thm quyền.

Tòa án tống đạt hợp lệ cho bà B quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa lần thứ nhất và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn bà B. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà B vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật:

Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương Tín với bị đơn bà Đào Thị Ngọc B là tranh chấp Hp đồng vay tài sản tài sản”.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu của đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Văn C yêu cầu Tòa án buộc bà Đào Thị Ngọc B trả số tiền 3.321.100 (Ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn một trăm) đồng. Trong đó bao gồm nợ gốc 2.298.200 đồng và nợ lãi là 1.022.900 đồng.

Xét thấy hợp đồng tín dụng số: 01197 - 00071 ngày 11/12/2017 giữa Ngân hàng Thương Tín với bà Đào Thị Ngọc B được ký xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên là hợp đồng hợp pháp.

Bà Đào Thị Ngọc B đã nhận tiền giải ngân từ Ngân hàng cũng đã thc hiện một phần nghĩa vụ trả nợ cho phía Ngân hàng. Theo hợp đồng tín dụng được hai bên ký kết, bên vay có nghĩa vụ trả nợ theo phương thức trả góp hàng ngày. Tuy nhiên phía bà B không thực hiện đúng thỏa thuận, Ngân hàng cũng nhiều lần đến gặp trực tiếp bà B về trách nhiệm trả nợ nhưng bà B không thực hiện, nên đã vi phạm hợp đồng, làm nh hưởng quyền của bên cho vay.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đào Thị Ngọc B trả số tiền 3.321.100 (Ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn một trăm) đồng. Trong đó bao gồm nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 12/7/2022 (ngày xét xử sơ thẩm) là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Bà B đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, tham gia hòa giải, công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không lý do, không chứng minh đã trả cho Ngân hàng bao nhiêu tiền là từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự và đường lối giải quyết vụ án là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận

[4] Án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của Ngân hàng Thương Tín được chấp nhận toàn bộ nên Ngân hàng không phải chịu án phí dân s sơ thẩm.

Bà Đào Thị Ngọc B vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên phải chịu án phí dân s sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 463, 466, Điêu 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Các Điều 26, 35, Điều 39, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

Buộc bà Đào Thị Ngọc B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số tiền 3.321.100 (Ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn một trăm) đồng. Trong đó bao gồm nợ gốc 2.298.200 đồng và nợ lãi là 1.022.900 đồng; tính đến ngày 12/7/2022 (ngày xét xử sơ thm).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đi với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc k từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đi với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đào Thị Ngọc B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tiền số: 0007637 ngày 24/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên.

3. Quyền kháng cáo:

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

113
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 28/2022/DS-ST

Số hiệu:28/2022/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tịnh Biên - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 12/07/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;