Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 05/2024/KDTM-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 05/2024/KDTM-ST NGÀY 23/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 08/2024/TLST-KDTM ngày 05/4/2024 về việc "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-KDTM ngày 24/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-KDTM ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa:

*Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V1 (VPB).

Địa chỉ trụ sở chính: Số H, đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị M, ông Phương Trường M, ông Vũ Văn T, ông Trần Văn V - Đều là nhân viên Ngân hàng TMCP VI; địa chỉ: Số B đường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Ông V có mặt).

(Theo Văn bản ủy quyền số 754/2024/UQ-KHCN ngày 18/3/2024).

Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V1: Công ty Cổ phần M2.

Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I đường D, phường D, quận C, thành phố H.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T1 - Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

+ Ông Nguyễn Đăng L - Trưởng bộ phận xử lý nợ II - Phòng xử lý nợ Miền B.

+ Ông Nguyễn Ngọc H - Chuyên viên xử lý nợ.

+ Ông Hoàng Văn D1 - Chuyên viên xử lý nợ (có mặt).

+ Ông Vũ Minh T2 - Chuyên viên xử lý nợ.

Cùng địa chỉ: Số B đường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Theo hợp đồng mua bán nợ số 04/2024/VPB-MARS ngày 30/5/2024 và hợp đồng chuyển nhượng số 05/2024/VPB-MARS ngày 30/5/2024).

(Văn bản ủy quyền số 708/2024/ƯQ-MARS (VPB) ngày 15/6/2024).

*Bị đơn:

1. Anh Trần Văn L, sinh năm 1998 (vắng mặt).

2. Chị Ngô Thị H, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024, bản tự khai và diễn biến tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP V1, do ông Trần Văn V đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngân hàng TMCP V1 (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ngày 23/02/2023 với anh Trần Văn L và chị Ngô Thị H. Với nội dung: Ngân hàng đã giải ngân cho anh L1, chị H1 số tiền 797.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh cơ khí, nhôm kính; lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Ngoài ra, giữa Ngân hàng và anh L1, chị H1 còn ký: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022, với hạn mức đề nghị: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); mục đích vay phục vụ tiêu dùng cá nhân; lãi suất trong hạn áp dụng theo biểu lãi suất cho vay do Ngân hàng quy định qua từng thời kỳ.

Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên, Ngân hàng với anh L1, chị H1 đã ký hợp đồng thế chấp số LN2202225249209/BGG ngày 24/02/2022, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 7, diện tích 135,65m2, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B0211992 ngày 03/4/2013, vào sổ cấp giấy H00271/QĐ số 975/QĐ-UBND T15/Q3 cho hộ ông Trần Văn L2, ngày 06/4/2018 tặng cho anh Trần Văn L1.

Ngày 30/5/2024 Ngân hàng TMCP V1 đã bán một phần khoản nợ của anh L1, chị H1 cho Công ty Cổ phần M2 (sau đây được viết tắt là công ty M2) theo Hợp đồng số 04/2024/VPB-Mars và Hợp đồng số 05/2024/VPB-Mars. Bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh L1, chị H1 chưa trả Ngân hàng tiền gốc, tiền lãi đã trả được 48.260.753 đồng. Nay anh L1, chị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi nên toàn bộ khoản vay trên chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 15/9/2023. Ngân hàng đã thông báo trả nợ nhiều lần nhưng anh L1, chị H1 không thanh toán được nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh L1, chị H1 thanh toán trả Ngân hàng 10% nợ theo HĐTD số LN2202225249209 ngày 24/02/2022; giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ngày 23/02/2023 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024 gồm: số tiền nợ gốc: 79.700.000 đồng; nợ lãi: 13.680.919 đồng; lãi chậm trả: 671.473 đồng, tổng nợ: 94.052.392 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

Nếu anh L1, chị H1 không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền đề nghị phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng.

Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V1 là Công ty cổ phần M2, đại diện theo ủy quyền ông Hoàng Văn D1 trình bày: Ngày 30/5/2024 Ngân hàng TMCP V1 đã bán một phần khoản nợ của anh L1 và chị H1 cho Công ty Cổ phần M2 theo Hợp đồng số 04/2024/VPB-Mars và Hợp đồng số 05/2024/VPB-Mars. Bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký. Nay Công ty cổ phần M2 yêu cầu anh L1, chị H1 thanh toán trả Công ty cổ phần M2 90% nợ theo HĐTD số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và 100% theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024, số tiền nợ gốc là: 726.311.315 đồng; nợ lãi: 131.538.703 đồng; lãi chậm trả: 6.043.258 đồng, tổng nợ: 863.893.276 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

Nếu anh L1, chị H1 không thanh toán trả nợ cho Công ty M2 thì Công ty M2 được quyền đề nghị phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, đảm bảo quyền lợi cho Công ty M2.

Anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1 có Hộ khẩu thường trú tại: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng qua ông Trần Văn L2 là bố đẻ anh L. Ông L2 cam kết đã thông báo các văn bản tố tụng cho anh L1, chị H1, nhưng anh L1, chị H1 không có bản tự khai, không đến Tòa án trình bày, vắng mặt tại phiên họp Công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong cả quá trình tố tụng, đảm bảo đúng quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Anh L3, chị H1 không chấp hành nghiêm chỉnh, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228, 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; các điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1 thanh toán trả Ngân hàng TMCP V1 10% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ngày 23/02/2023 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024 số tiền nợ gốc là: 79.700.000 đồng; nợ lãi: 13.680.919 đồng; lãi chậm trả: 671.473 đồng, tổng nợ: 94.052.392 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

Buộc anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1 thanh toán trả Công ty cổ phần M2 90% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2022 và 100% theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024 gồm: số tiền nợ gốc là: 726.311.315 đồng; nợ lãi: 131.538.703 đồng; lãi chậm trả: 6.043.258 đồng, tổng nợ: 863.893.267 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh L1, chị H1 không thanh toán trả nợ Ngân hàng và Công ty M2 thì Ngân hàng và Công ty M2 được quyền đề nghị phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.

Về án phí và chi phí tố tụng: Anh L3, chị H1 phải chịu tiền chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và thanh toán trả Ngân hàng.

Anh L3, chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP V1 khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1 trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký. Anh L3, chị H1 cư trú tại xã T, thành phố B nên tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP V1 với anh L3, chị H1 là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Ngân hàng TMCP V1 (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023 với anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1. Với nội dung: Ngân hàng đã giải ngân cho anh L1, chị H1 số tiền: 797.000.000 đồng; thời hạn vay là 12 tháng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh cơ khí, nhôm kính; lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Ngoài ra, giữa Ngân hàng và anh L1, chị H1 còn ký: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022, với hạn mức đề nghị: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); mục đích vay phục vụ tiêu dùng cá nhân; lãi suất trong hạn áp dụng theo biểu lãi suất cho vay do Ngân hàng quy định qua từng thời kỳ.

Ngày 30/5/2024 Ngân hàng TMCP V1 đã bán một phần khoản nợ của anh L1 và chị H1 cho Công ty cổ phần M2 theo Hợp đồng số 04/2024/VPB-Mars và Hợp đồng số 05/2024/VPB-Mars. Bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh L1, chị H1 chưa trả Ngân hàng tiền gốc, tiền lãi đã trả được 48.260.753 đồng. Nay anh L1, chị H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi nên toàn bộ khoản vay trên chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 15/9/2023. Ngân hàng đã thông báo trả nợ nhiều lần nhưng anh L1, chị H1 không thanh toán được nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh L1, chị H1 thanh toán trả Ngân hàng 10% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024, số tiền nợ gốc: 79.700.000 đồng, nợ lãi 13.680.919 đồng; lãi chậm trả: 671.473 đồng, tổng nợ: 94.052.392 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

Nếu anh L1, chị H1 không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền đề nghị phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, đảm bảo quyền lợi cho Ngân hàng.

Người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V1 là Công ty Cổ phần M2 yêu cầu anh L1, chị H1 thanh toán trả Công ty M2 90% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023 và 100% theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024, số tiền nợ gốc: 726.311.315 đồng; nợ lãi: 131.538.703 đồng; lãi chậm trả: 6.043.258 đồng, tổng nợ: 863.893.276 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

Nếu anh L1, chị H1 không thanh toán trả nợ cho Công ty M2 thì Công ty M2 được quyền đề nghị phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ, đảm bảo quyền lợi cho công ty M2.

Để đảm bảo cho Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022, giữa Ngân hàng với anh L1, chị H1 đã ký hợp đồng thế chấp số LN2202225249209/BGG ngày 24/02/2022 tại Văn phòng C, địa chỉ: Số C đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Theo đó anh L1, chị H1 đã dùng tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng đã ký là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 7, diện tích 135,65m2, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B0211992 ngày 03/4/2013, vào sổ cấp giấy H00271/QĐ số 975/QĐ-UBND T15/Q3 cho hộ ông Trần Văn L2, ngày 06/4/2018 tặng cho anh Trần Văn L1.

Hội đồng xét xử thấy:

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đề nghị anh L1, chị H1 phải thanh toán 10% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023, với tổng số tiền là: 94.025.392 đồng, trong đó nợ gốc 79.700.000 đồng, nợ lãi 13.680.919 đồng; lãi chậm trả: 671.473 đồng.

Công ty cổ phần M2 đề nghị anh L1, chị H1 phải thanh toán 90% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023; và 100% nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022, với tổng số tiền là: 863.893.276 đồng; trong đó số tiền nợ gốc là: 726.311.315 đồng; nợ lãi: 131.538.703 đồng; lãi chậm trả: 6.043.258 đồng là có căn cứ theo quy định tại các điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022; căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 của BLDS; Điều 3, Điều 7 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc H2 về thí điểm xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng và Công ty cổ phần M2 có quyền yêu cầu phát mại tài sản tại Hợp đồng thế chấp số LN2202225249209/BGG ngày 24/02/2022. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và Công ty cổ phần M2 về việc xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 7, diện tích 135,65m2, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

[4] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng đã nộp 5.000.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và đã chi phí hết. Yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên anh L1, chị H1 phải chịu 5.000.000 đồng chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và thanh toán trả Ngân hàng.

[5] Về án phí: Anh L3, chị H1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm với số tiền 940.523.928 đồng là: 36.000.000 đồng + 140.523.928 đồng x 3% = 40.215.717 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm là: 17.421.741 đồng x 5% = 871.087 đồng. Tổng số tiền án phí phải chịu: 41.086.804 đồng.

Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Buộc anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1 thanh toán trả Ngân hàng TMCP V1 10% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024 tổng số tiền là 94.052.392 đồng, trong đó nợ gốc 79.700.000 đồng, nợ lãi 13.680.919 đồng; lãi chậm trả: 671.473 đồng.

Và tiếp tục phải trả lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

2. Buộc anh Trần Văn L1 và chị Ngô Thị H1 thanh toán trả Công ty cổ phần M2 90% nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2202225249209 ngày 24/02/2022 và giấy đề nghị giải ngân; khế ước nhận nợ ký ngày 23/02/2023; và 100% nợ theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 10/3/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm 23/8/2024 tổng số tiền là: 863.893.276 đồng; số tiền nợ gốc là: 726.311.315 đồng; nợ lãi: 131.538.703 đồng; lãi chậm trả: 6.043.258 đồng.

Và tiếp tục phải trả lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày tiếp theo 24/8/2024 đến khi thanh toán xong.

Trường hợp anh L1, chị H1 không thanh toán trả nợ Ngân hàng và Công ty cổ phần M2 thì Ngân hàng và Công ty cổ phần M2 có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 7, diện tích 135,65m2, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B0211992 ngày 03/4/2013, vào sổ cấp giấy H00271/QĐ số 975/QĐ-UBND T15/Q3 cho hộ ông Trần Văn L2, ngày 06/4/2018 tặng cho anh Trần Văn L1.

2. Về chi phí tố tụng: Anh L3, chị H1 phải chịu 5.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định tại chỗ tài sản và thanh toán trả Ngân hàng.

3. Về án phí: Anh L3, chị H1 phải chịu 40.215.717 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 871.087 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng 41.086.804 đồng.

Trả lại Ngân hàng TMCP V1 số tiền 17.900.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001693 ngày 05/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

259
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 05/2024/KDTM-ST

Số hiệu:05/2024/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 23/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;