TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 373/2022/DS-ST NGÀY 12/12/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 698/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 428/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD; địa chỉ trụ sở: Ấp BS, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền: Chị Trần Ngọc M, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú: Số 20 ấp BĐ, xã LVL, thành phố CM, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Anh Đặng Văn S, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Ấp TH, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt)
2. Chị Ngô Bích T1, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: TH, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Chị Trần Ngọc M trình bày: Ngày 01/5/2022, ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD với anh S, chị T đã ký hợp đồng mua bán thức ăn và thuốc thủy sản, đến ngày 31/3/2024 hai bên đối chiếu công nợ thể hiện anh S, chị T còn nợ 364.230.000đ.
Tại đơn khởi kiện, ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD yêu cầu anh S, chị T trả số tiền vốn vay 364.230.000đ và số tiền lãi 39.804.000đ. Tại phiên Tòa, phía nguyên đơn yêu cầu anh S và chị T trả số tiền vốn 364.230.000đ, không yêu cầu trả lãi.
Đối với anh Đặng Văn S và chị Ngô Bích T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Ngọc M có đơn xin xử vắng mặt. Anh Đặng Văn S và chị Ngô Bích T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên là phù hợp.
[2] Về phạm vi khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD yêu cầu anh S, chị T trả số tiền vốn vay 364.230.000đ và số tiền lãi 39.804.000đ. Tại phiên Tòa, phía nguyên đơn yêu cầu anh S và chị T trả số tiền vốn 364.230.000đ, không yêu cầu trả lãi. Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Theo lời trình bày của chị M, hợp đồng mua bán ngày 01/5/2022 giữa ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD với anh S, chị T và Bảng đối chiếu công nợ ngày 31/8/2023, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 01/5/2022 giữa ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD với anh S, chị T đã ký kết hợp đồng mua bán thuốc, thức ăn tôm công nghiệp, đến ngày 31/8/2023 hai bên đối chiếu công nợ thể hiện anh S, chị T còn nợ nguyên đơn số tiền vốn 364.230.000đ.
Đối với anh S, chị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các đương sự không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD. Buộc anh S, chị T trả số tiền 364.230.000đ.
[4] Về án phí dân sự: ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí số tiền 10.081.000đ được nhận lại. Anh S, chị T phải chịu 364.230.000đ x 5% = 18.211.500đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD.
1. Buộc anh Đặng Văn S và chị Ngô Bích T trả cho ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD số tiền nợ 364.230.000đ (ba trăm sáu mươi bốn triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
2. Về án phí dân sự: Ông Võ Hoàng Đ - Chủ hộ kinh doanh TQM TD không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 10.081.000đ (mười triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001988 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại. Anh Đặng Văn S và chị Ngô Bích T phải chịu 18.211.500đ (mười tám triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản số 373/2022/DS-ST
| Số hiệu: | 373/2022/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 12/12/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về