TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TV, TỈNH TRÀ VINH
BẢN ÁN 05/2024/KDTM-ST NGÀY 21/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TV, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-KDTM ngày 08 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-KDTM ngày 17 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 89/2024/QĐST-KSTM ngày 03/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P.
Địa chỉ công ty: Khóm A, Phường C, thành phố TV, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh T - Chức vụ: Chủ tịch kiêm Giám đốc. (có mặt) Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Công ty TNHH Tư vấn Xây dựng T.
Người đại diện hợp pháp cho Công ty TNHH Tư vấn Xây dựng T: Ông Bùi Văn N – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn Xây dựng T. (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, thành phố TV, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2024 của Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P và lời khai của ông Nguyễn Minh T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2020 đến ngày 27/01/2022, Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P cung cấp vật liệu xây dựng cho Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T. Khi thỏa thuận, giữa hai công ty chỉ thỏa thuận miệng không có ký hợp đồng bằng văn bản. Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P đã cung cấp các mặt hàng như sơn, bột trét, và các công cụ thi công sơn nước cho Công TNHH Tư vấn xây dựng T. Tổng giá trị hợp đồng là 536.596.461 đồng. Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T chỉ thanh toán được số tiền 350.000.000 đồng (Ngày 22/01/2021 thanh toán 100.000.000 đồng; Ngày 09/02/2021 thanh toán 50.000.000 đồng; Ngày 12/3/2021 thanh toán 50.000.000 đồng; Ngày 24/6/2021 thanh toán 100.000.000 đồng; Ngày 27/01/2022 thanh toán 50.000.000 đồng). Còn nợ lại số tiền 186.596.461 đồng. Nay Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải trả số tiền mua hàng còn nợ là 186.596.461 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P chỉ yêu cầu Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải thanh toán số tiền còn nợ là 164.457.786 đồng. Không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
1. Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án trong thời gian chuẩn bị xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải trả số tiền mua hàng còn nợ. Xét thấy, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Bị đơn Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T có địa chỉ trụ sở tại ấp B, xã Đ, thành phố TV, nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh theo điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Bị đơn Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh đưa vụ án ra xét xử vắng mặt Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự. [2] Nội dung vụ án:
[2.1] Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P và Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T bắt đầu giao dịch mua bán với nhau từ ngày 20/11/2020 đến ngày 27/01/2022 (thời gian căn cứ vào sổ giao nhận hàng hóa). Cả hai công ty không có ký hợp đồng mua bán hòa hàng hóa, chỉ thỏa thuận bằng miệng. Mặc dù, không có ký hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng căn cứ vào sao kê của ngân hàng, sổ giao nhận hàng hóa thể hiện giữa Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P và Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T có giao dịch mua bán hàng hóa với nhau, phù hợp với quy định tại Điều 24 Luật thương mại năm 2005.
Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P cho rằng tổng số lượng hàng hóa đã giao cho Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T có trị giá là 536.596.461 đồng. Tuy nhiên căn cứ vào sổ giao nhận hàng hóa và công nợ chi tiết khách hàng mà Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P cung cấp cho Tòa án, chỉ xác định được số lượng hàng hóa quy ra giá trị thành tiền là 514.457.786 đồng. Lý do có sự chênh lệch là do những lần Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T tự đến Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P để thử màu sơn và tự chở hàng nên trong sổ giao hàng không có, chỉ có cập nhận trên hệ thống giao nhận hàng của Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P.
Xét thấy, căn cứ vào sổ giao nhận hàng hóa và công nợ chi tiết khách hàng chỉ đủ cơ sở xác định Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P đã giao cho Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T tổng giá trị hàng hàng hóa với tiền 514.457.786 đồng, nhưng được trừ vào số tiền Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T đã trả 350.000.000 đồng. Như vậy, số tiền Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T còn nợ Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P là 164.457.786 đồng.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Minh T là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P chỉ yêu cầu Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải trả số tiền còn nợ là 164.457.786 đồng.
Từ những nhận định trên, xét yêu cầu buộc Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải trả số tiền còn nợ 164.457.786 đồng là có sơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 50 Luật thương mại năm 2005.
Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P không yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải chịu án phí là 8.222.889 đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 24, Điều 50 Luật Thương mại 2005;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P tổng số tiền còn nợ là 164.457.786 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH Tư vấn xây dựng T phải chịu án phí là 8.222.889 đồng.
Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P không phải chịu án phí kinh doanh thương mại. Hoàn trả cho Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ P số tiền tạm ứng án phí 4.664.000 đồng theo biên lai thu số 0000059 ngày 26/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TV.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 05/2024/KDTM-ST
| Số hiệu: | 05/2024/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Trà Vinh - Trà Vinh |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 21/06/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về